Ban Quản Trị

Thư từ bài vở xin gởi về:
Nguyễn Điền: nguyendienhl@gmail.com - Nguyễn Lê Hiếu: lehieunguyen91@gmail.com - Triều Nguyên: baolongspkt@gmail.com, luongdienhaison@gmail.com, ngkhacphuoc@gmail.com


Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2022

VỀ NHỮNG LÀNG CỔ MANG THÀNH TỐ KẺ TẠI VÙNG NAM HẢI LĂNG - Khê Giang



Trong các làng xã cổ xưa của người Việt, có rất nhiều vùng tên làng có mang thành tố kẻ. Theo ý nghĩa của ngôn từ Việt cổ, thì kẻ là từ chỉ một cụm dân cư sống trên một địa bàn cụ thể. Tùy cấu trúc của đơn vị cư trú mà kẻ có thể đồng nghĩa với thôn hoặc làng, thành tố này xuất hiện khá sớm ở nước ta, đó là giai đoạn sau khi hình thành những công xã nông thôn cuối thời Hùng Vương. Kẻ là một kiểu gọi tên tục của làng chứ không phải là tên hành chánh trong địa bộ của làng xã.


Nhận định về thành tố kẻ trong tên gọi 

Có ba vùng xuất hiện nhiều làng có tên kẻ ở Việt Nam:

Thứ nhất là Nghệ An và Hà Tĩnh: Đây là hai tỉnh thành có tỉ lệ làng mang tên kẻ rất cao, đó là các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân, Ðức Thọ (Hà Tĩnh); Thanh Chương, Quỳnh Lưu, Ðô Lương, Anh Sơn, Nghĩa Ðàn, Nam Ðàn, Nghi Lộc (Nghệ An). Đặc biệt ở huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) số làng tên kẻ chiếm hơn 60% tổng số các làng trong huyện.

Vùng thứ hai là Thanh Hóa: Ðây cũng là một vùng dày đặc các làng có tên kẻ bao gồm các huyện như: Hậu Lộc, Ðông Sơn, Triệu Sơn, Thiệu Yên, Hoằng Hóa, Hà Trung, Quảng Xương, Nông Cống…

Nơi đứng thứ ba đó là Phú Thọ, Vĩnh Phúc và châu thổ sông Hồng. Đây là vùng đất quần cư của các cư dân thời Vua Hùng, bao gồm các huyện Thanh Sơn, Sông Thao, Phong Châu, thành phố Việt Trì (Phú Thọ); Vĩnh Lạc, Lập Thạch, Tam Ðảo, Mê Linh (Vĩnh Phúc); Ðông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn, Gia Lâm (Hà Nội)…

Tuy không chiếm tỷ lệ cao như các vùng trên, nhưng Quảng Trị cũng có nhiều làng có địa danh mang thành tố kẻ, như Kẻ Mói (làng Di Loan), Kẻ Giáo (làng Giáo Liêm), Kẻ Triêm (làng Thanh Liêm), Kẻ Bố (làng Bố Liêu)… nhưng ở Nam Hải Lăng là nơi có nhiều hơn cả, đơn cử như: Kẻ Diên (làng Diên Sanh), Kẻ Đâu (làng Trường Sanh), Kẻ Lạng (làng Lương Điền), Kẻ Văn (làng Văn Quỹ), Kẻ Vịnh (làng Hưng Nhơn)... Giáp ranh với những làng kẻ của Hải Lăng, ở bờ nam dòng Ô Lâu thuộc xã Phong Hòa của Thừa Thiên cũng có một số làng  mang thành tố kẻ như: Kẻ Đôộc (Phước Tích), Kẻ Né (Mỹ Xuyên), Kẻ Gùn (Siêu Quần), Kẻ Phù (Phong Bình)… Đây gần như là lãnh địa cuối cùng của những làng có thành tố kẻ trên con đường Nam tiến xưa, càng vào Nam những “làng kẻ” càng thưa dần và đến Nam Trung Bộ trở vào thì mất dấu.

Vào thời Bắc thuộc, những vùng đất mang tên kẻ này ngoài tên Nôm đã có của người Việt, mỗi làng phải đặt thêm một tên chữ (âm Hán - Việt). Khác với tên Nôm chỉ có một từ (không tính thành tố kẻ), tên chữ thường có ít nhất là hai từ. Như vậy, những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc, luôn tồn tại hai tên, một tên Nôm (kèm kẻ) và một tên Hán - Việt. Do các triều đại phong kiến nước ta dùng chữ Hán thay cho từ Việt cổ bị cấm (chính sách đồng hóa) nên đa số những làng ra đời trong thời kỳ phong kiến thường chỉ có tên chữ, không có tên Nôm và không có từ kẻ đi kèm. Ðó cũng là cách để những nhà nghiên cứu nhận diện những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc và những làng mới được thành lập về sau.

Tuy nhiên các làng mang tên kẻ ở Quảng Trị nói chung và vùng Nam Hải Lăng nói riêng lại không nằm trong quy luật này, nguyên nhân là do trong quá trình Nam tiến các cư dân, những người khai khẩn ở đây đã lấy tên hoặc một phần gốc tích làng cũ để đặt tên cho làng mới. Vì vậy dù được ra đời trong thời kỳ phong kiến nhưng những làng này vừa có tên chữ vừa có tên Nôm và chúng cũng chỉ có lịch sử từ 7 thế kỷ trở lại (kể từ năm 1306 khi châu Ô, châu Lý sáp nhập vào Đại Việt), chứ không cổ như các làng có mang thành tố kẻ thời công xã nông thôn cuối thời Hùng Vương.

Để giải thích phần nào cho việc những làng ở Hải Lăng đặt tên mới theo gốc tích của làng cũ, ta tìm hiểu thêm về nguồn gốc xuất xứ của một số làng ở vùng này. Tại làng Kẻ Diên, theo gia phả họ tộc Nguyễn Văn để lại thì vị Chánh Tiền khai canh của làng thuộc tộc họ này có gốc gác ở thành Thăng Long, khi đến định cư tại làng quê mới đã dùng từ kẻ để đặt tên nơi cư trú mới của mình. Thăng Long là một trong ba vùng có tỉ lệ cao về các làng có mang thành tố kẻ: Kẻ Noi (Cổ Nhuế), Kẻ Mọc (Nhân Mục), Kẻ Cót (Yên Quyết), Kẻ Mẩy (Mễ Trì) và Kẻ Mơ (Tương Mai và làng Hoàng Mai), Kẻ Bưởi (gồm những làng: Hồ Khẩu, Yên Thái, Trích Sài, Bái Ân)… Vì vậy việc các vị khai canh, khai khẩn của làng Diên Sanh đặt tên làng có thành tố kẻ là không có gì lạ.

Tương tự, tên làng Kẻ Lạng cũng được đặt theo gốc tích làng cũ. Theo di cảo của làng Lương Điền, tổ tiên ngày trước có gốc gác ở Lạng Phước, Tống Sơn, Thanh Hóa. Năm Đinh Tỵ (1497), theo lời phủ dụ của vua Lê Thánh Tông, các ngài của tộc Nguyễn Văn, Nguyễn Đình, Lê Văn cùng một số gia nhân, đinh tráng tự nguyện xuôi Nam lập nghiệp. Các ngài đã đến châu Thuận, khai khẩn và định cư tại ven bờ bắc sông Độộc (Ô Lâu). Năm 1508, ngài Nguyễn Văn Tước chính thức được tôn cử làm kẻ trưởng và thu nhận thêm những người phiêu bạt từ Đàng Ngoài vào lập nên làng Kẻ Lạng. Từ Kẻ Lạng bắt nguồn tên làng cũ Lạng Phước (Thanh Hóa) và qua nhiều lần đổi tên, làng này vẫn chọn những danh từ liên quan đến gốc gác xưa của mình: Lạng Uyên, Lương Phước, Lương Phúc hay Lương Điền ngày nay.

Trải qua thời gian, thành tố kẻ ở Hải Lăng đã có sự biến âm ở một số địa phương, từ kẻ được chuyển qua từ cái hoặc chuyển qua từ cấy. Đây là sự biến âm khá phổ biến ở Quảng Trị, ví dụ như cái thúng, cái cuốc biến thành cấy thúng, cấy cuốc… Vì thế chúng ta không lấy làm lạ khi một số người dân vùng này vẫn gọi Cấy Diên hay Cái Diên thay cho Kẻ Diên và Cái Vịnh hay Cấy Vịnh thay cho Kẻ Vịnh…


Về những làng có mang thành tố kẻ ở Hải Lăng, Quảng Trị

Làng Kẻ Diên: Hay còn gọi là Cấy Diên, Cái Diên, Duyên Sinh nay là Diên Sanh là một làng cổ của vùng đất Hải Lăng. Làng có tên trong Ô châu cận lục của Dương Văn An, được nhắc đến trong Đại nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn và cả trong Đồng Khánh địa dư chí, nó nằm trên trục đường thiên lý Bắc Nam và là trung tâm của huyện lỵ Hải Lăng.

Gốc gác các vị khai canh, khai khẩn của làng Kẻ Diên đều từ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ di cư vào, vị Chánh Tiền khai canh của làng thuộc tộc họ Nguyễn Văn, có gốc ở thành Thăng Long. Chợ Kẻ Diên còn là địa danh được biết qua bài ca dao mười quả trứng, một bài ca dao cổ được xếp loại hay nhất nói về tinh thần chịu khó của người Quảng Trị. Ngoài ra xứ này còn có món cháo vạc chờng/vạt giường (bánh canh) và có món lòng sả đậm đà hương vị quê hương, nức lòng du khách gần xa.

Làng Kẻ Đâu: Còn có tên là Đâu Trang, Đoan Trang, Trường Sinh và tên ngày nay là Trường Sanh, cũng là một làng cổ của Quảng Trị, đây là một trong “tứ đại xã” của vùng đất này. Làng Trường Sanh tiếp giáp với làng Kẻ Diên ở phía bắc và Kẻ Lạng ở phía nam. Những họ tộc đến khai khẩn vùng đất này có mặt từ thời nhà Hồ (1400 - 1406) với các họ: Lê, Võ, Nguyễn có gốc gác từ Ái châu. Vị tiền khai canh của làng là ngài Lê Thời Danh. Mãi đến thời Hồng Đức nhà Lê (1470 - 1497) sau cuộc đại di dân vào Thuận Hoá theo chiêu dụ của Lê Thánh Tông làng mới được thành lập. Nguyên xưa làng có năm giáp đó là Giáp Mỵ, Giáp Hậu, Giáp Trung, Giáp Đông và Giáp Phước nay thứ tự có tên là Mỵ Trường, Hậu Trường, Trung Trường, Đông Trường, do có địa hình tách biệt với làng mẹ nên Giáp Phước sau đó đã được nhập về xã khác, đó là làng Trường Phước của xã Hải Lâm ngày nay. Trường Sanh có dòng Ô Khê xinh đẹp nên thơ, có miếu Bà Lồi, một trong những phế tích hiếm hoi của người Chăm còn sót lại trên mảnh đất Hải Lăng.

Làng Kẻ Lạng: Còn có tên Cấy Lạng, Lãng Uyên, Lương Phúc, Lương Phước. Nay là làng Lương Điền. Làng Lương Điền phía nam giáp sông Ô Lâu, phía tây giáp núi Hạ Lĩnh, phía bắc giáp xã Hải Trường, phía đông là làng Hà Lộc (xã Hải Sơn).

Lương Điền xưa nổi tiếng với chợ Kẻ Lạng, vì chỉ đông buổi chiều nên chợ còn có tên là chợ Hôm hay chợ Hôm Lạng. Cùng tên với ngôi chợ xưa này là một bến đò cổ của làng, đây cũng là tuyến giao thông thủy quan trọng nối hai bờ của con sông Ô Lâu (Mỹ Xuyên của Thừa Thiên Huế và Kẻ Lạng của Quảng Trị). Hai bến đò này cùng với bến đò Câu Nhi (Hải Tân) kết nối qua trục tam giác ba làng để trở thành một địa danh Ba Bến, khu vực giao thương nhộn nhịp sầm uất thời bấy giờ.

Làng Kẻ Vịnh: Hay Cấy Vịnh, có tên xưa là làng Vĩnh Hưng, nay là làng Hưng Nhơn. Theo lịch sử của làng, vị khai canh thuộc dòng họ Lê Văn đến khai phá và sau đó lần lượt các họ: Nguyễn, Trần, Lê… Các ngài thỉ tổ khai canh đã đến nơi này từ vùng Thanh - Nghệ... Làng có cồn Đầu Trâu nổi tiếng, nguyên xưa là cồn mồ Đổng Thượng, sau được bồi đắp to dần và trở thành nơi cúng kỵ Đinh Bộ Lĩnh hàng năm của làng. Tại cồn Đầu Trâu trước đây vẫn thường diễn ra tập trận cờ lau của trẻ em trong làng và các làng lân cận. Làng có xóm Càng Hưng Nhơn, một địa hình cư trú đặc biệt của vùng đất Hải Lăng, nơi có ruộng đồng xanh tươi sông nước hữu tình. Kẻ Vịnh còn có cồn Bà Giàng cùng với tục thờ đá khác lạ với các thôn làng khác, đây có thể là một hiện tượng giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm.

Làng Kẻ Văn: Nay là làng Văn Quỹ, ngôi làng này nép mình bên dòng Ô Lâu duyên dáng thơ mộng, làng có bốn xóm: Thượng An, Đông An, Thái Hòa, Phú Thọ mà người trong làng thường gọi xóm Đùng, xóm Trên, xóm Sau, xóm Giữa. Nơi đây có khu lăng mộ triều Nguyễn được công nhận di tích cấp tỉnh, có nhà Trường Thánh một nơi thờ tự tôn nghiêm. Kẻ Văn còn có chùa Vạn An với không gian yên bình cổ kính, có ngôi nhà thờ Kẻ Văn một trong những ngôi thánh đường được xây dựng sớm nhất tại Quảng Trị... Ngôi làng nên thơ này còn nổi tiếng với nhiều nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như: thêu ren, chằm nón...

Lược qua một số địa danh mang thành tố kẻ ở Hải Lăng - Quảng Trị, ngoài việc chúng ta biết thêm đôi nét về con người, lịch sử hình thành của các ngôi làng cổ của quê hương, còn là dịp chúng ta tìm hiểu về truyền thống quý báu của dân tộc. Những bậc tiền nhân, những người con đất Việt trong hành trình mở cõi, đã luôn đau đáu về cái nôi của con Lạc cháu Hồng khi tìm đặt, gọi tên cho những vùng đất mới bằng những cái tên Nôm hay thuần Việt mang gốc gác nguồn cội với tinh thần “ly hương bất ly tổ”.

K.G

Nguồn: Tạp Chí Cửa Việt

https://tapchicuaviet.com.vn/nguoi-dat-que-huong/ve-nhung-lang-co-mang-thanh-to-ke-tai-vung-nam-hai-lang-12338.html, ngày 08/07/2020.






Thứ Bảy, 26 tháng 2, 2022



Chùm thơ Nguyễn Bá Bồng


KỂ CHUYỆN LÀNG TÔI                                                            

 

Làng tôi là một miền quê

Ven đường quan cái nối về xã xa

Hai đầu rộn rã khách qua

Dưới sông trên bộ song xa dặm vời

Đầu thôn hai miếu lâu đời

Rêu phong thiên cổ tích thời nan phân

Hiên đình Nghê đá triều sân

Nơi đây thờ phụng tiền nhân dựng làng

Sắc phong dấu ấn son vàng

Tám khu địa bộ xưa làng nêu danh

Vực Kè bên ấy tân canh

Đất lành chim đậu yến oanh một nhà

Động Tý thông lủng trên xa

Cây cò cây hạc tre nhà gốc chung

Cồn Tàu nghiêng bóng bên sông

Cùng mang nguồn cội máu chung đậm tình

Cồn vườn-Khe tấy đồi ghềnh

Sơn khê một dải tổ đình xuất ra

Đông-Tây-Nam nhà cạnh nhà

Quan quân dân chính thiết tha thương đời

Sinh ra anh kiệt nhân tài

Tồn vong đất nước nhiều thời thân phơi

Ai qua mời ghé thăm chơi

Nơi đây đất cũ một thời đế đô

Danh tích còn rõ địa đồ

Bến Voi, Trường Ngựa, nhà kho phủ đường

Tiền Kinh có bến thừa lương

Phía bắc Mô súng chặn phường hung nô

Cảnh quan nhiều nét điểm tô

Có con khê mã dưới hồ đồi tây

Đông xuân nước đổ về đây

Tưới qua ruộng lá lòng đầy mương kênh

Phong Lưu bóng tỏ bên đình

Trưa hè râm mát  đêm xinh trăng cài

Chợ chiều một thửa chen vai

Làng trên xóm dưới khách ngoài đến đông

Đình chùa nhà họ ngói hồng

Ngày xuân lễ hội cảnh trông rộn ràng

Giữa làng băng dặm quan san

Dấu chân mở nước buổi ngàn xa xưa

Ô Lâu sông bến sáng trưa

Khách qua thửa ấy đò đưa lại ngày

Ruộng lành chim đổ về đây

Đồng xanh cò trắng mang đầy cảnh quê

Trường tan trống bãi trẻ về

Chim kia tìm tổ trâu bê gọi bầy

Giọng hò xứ sở vơi đầy

Của người thôn nữ vui say ruộng vườn

Ngày ngày một nắng hai sương

Tình người nồng thắm yêu thương khôn lường

Đêm về chuông vọng chùa Lương

Ngân nga thức tục tĩnh đường cuồng mê

Nơi đây đất nước hẹn thề

Thủy phong văn vật nét quê đậm đà

Ai về Phước Tích nhìn qua

Lương Điền bờ bắc đó là quê tôi.

                                  

Lương Điền – 2017

 



CÂY PHONG LƯU

TRƯỚC CỔNG ĐÌNH LÀNG


 

Tỏa bóng sân đình tạo cảnh thiên

Lá reo vi vút tiếng đàn tiên

Âm thanh thánh thót nghe êm ái

Nhạc thoát du dương thấy dịu hiền

Trưa hạ vỗ về say nồng thắm

 Đêm thu thỏ thẻ đắm mơ huyền

Chan nguồn hạnh phúc lên thôn xóm

Ơn cụ Thị Khuê trồng bách niên

 

 

LIÊN CHÂU

  

Trồng bách niên cây tán rợp đường

Bóng nghiên bờ đẹp cảnh thôn Lương

Dừng chân du lịch qua thuyền bộ

Nghỉ gót thăm quan đến dặm trường

Tiếng lá thì thầm bao sự tích

Lời hoa thủ thỉ chuyện tinh tường

Những gì nghĩa cử đời tôn kính

 Để lại trong lòng khách viễn phương.

 

* Cây Phong Lưu được trồng khoảng năm (1915-1917).

Nguyễn Bá Bồng

TƯƠNG THÂN - Thơ Đặng Xuân Diệu

Tương thân

Đặng Xuân Diệu

 

Chúng ta cùng mẹ cùng cha

Âu Cơ trăm trứng sinh ra trăm người

Đến nay cùng đất cuối trời

Đều là dân Việt bao đời tương thân

Cùng sinh sống, cùng làm ăn

Có người gặp cảnh khó khăn bất ngờ

Người thì mẹ yếu con thơ

Người thì bão lũ rủi ro bất thường

Sống trong nghèo khó cùng đường

Nên cần đến những tình thương giúp đời

Mỗi người chỉ một ít thôi

Người tiền, kẻ gạo cứu người gian truân

Thương người như thể thương thân

Giúp người qua cảnh cùng bần ai ơi!

Lành rách cùng một cảnh đời

Đùm bọc đạo lý của người Việt Nam.

 

Những ngày lũ lụt - tháng 11.2020

Đ.X.D.



QUÊ HƯƠNG | HỠI MÙA THU - Thơ Trương Vườn

 


 

QUÊ HƯƠNG

 

 Cho ta yêu!

 Nắm đất phủ ông cha.                      

Yêu mãnh vườn, bao đời còn lưu dấu.

Yêu những gì, mà ta có.

Và cả những gì, nơi đó đã... có ta!

 Cho ta say!

 Say nghĩa say tình.

 Với men nồng, tình bạn thiết tha.

 Với cánh đồng, với hương nồng lúa mới.

 Với trang đời dệt nốt những vần thơ!

 

(Ngày mưa dầm trên quê hương HL,QT.

Noel 25/12/2021)

 

HỠI MÙA THU

 

Mùa thu ơi! sao vội vã qua mau.

Để tia nắng nhạt phai màu nắng hạ.

Chùm gió bấc đem đông về hối hả.

Khiến tim em lạnh giá buổi hoàng hôn.

 

Mùa thu ơi!  sao người nỡ dỗi hờn.

Làm đoạn phím cung buồn trời tháng bảy.

Để câu hát dù ngọt ngào bỏng cháy.

Bỗng vô hồn buông gảy nhịp đàn thơ.

 

Mùa thu ấy sao vô cảm hững hờ.

Để hoa cỏ xác xơ chờ đông đến.

Hương hoa bưởi thoang thoảng mùi quyến luyến.

Nỡ mang thuyền rời bến bỏ bờ yêu!

 

Bước chân ai lặng lẽ cuối đường chiều.

Như níu giữ thật nhiều bao kỷ niệm.

Mối tình ấy vấn vương luôn ẩn hiện.

Hương nồng nàn khó tan biến trong nhau

 

Mùa thu ơi! xin chớ vội qua mau.

Hãy nán lại nối nhịp cầu luyến ái.

Hãy giữ lấy ngọt bùi hương cỏ dại.

Cho men tình mãi mãi được lên ngôi.

 

Mùa thu ơi! tâm sự trút cạn lời.

Mong thu nhé! đừng xa rời quá vội.

Có hương cau mãi dịu dàng mỗi tối.

Để dìu nhau... khỏi lạc lối đường yêu !!!

 

(đh.tv 30/10/2021)

Trương Vườn



QUÊ HƯƠNG XỨ KẼ - Thơ Trương Vườn

 


QUÊ HƯƠNG XỨ KẼ*

 

Phong lưu*' sừng sững ngã ba sông

Suốt mấy trăm năm áng ngự dòng.

Tiên tổ sơ khai công trấn địa

Sinh thời hâu duệ đức lưu tông.

Cây đa Bến Cộ*" vang huyền thoại

Tình sử Lâu Giang** vọng tiếng lòng.

Thiên hạ vinh danh mang tứ "Kẽ"

An cư lạc nghiệp rạng trời đông.

 

 

(*) Thời sơ khai, 4 làng có tên Kẽ gồm: Kẽ Lạng, Kẽ Văn, Kẽ Vịnh, và Kẽ Diên, (nếu thiếu sót mong bổ sung.)

(*') Tên cây cổ thụ.

(*") Bến đò Hôm lạng của làng Kẽ Lạng (xưa).

(**) Huyền thoại của 4 câu ca dao "Trăm năm dù lỗi".

(đhvt 16/12/2021)

Trở lại thăm quê giữa mùa đông.

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2022

QUÊ HƯƠNG | CHIỀU TRI NGỘ - Thơ Trương Vườn

 


QUÊ HƯƠNG

 

 Cho ta yêu

 Nắm đất phủ ông cha.                      

Yêu mãnh vườn bao đời còn lưu dấu

Yêu những gì mà ta có

Và cả những gì nơi đó đã... có ta!

Cho ta say

Say nghĩa say tình

Với men nồng, tình bạn thiết tha.

Với cánh đồng, với hương nồng lúa mới

Với trang đời dệt nốt những vần thơ!

 

(Ngày mưa dầm trên quê hương HL,QT. Noel 25/12/2021)

 

 

CHIỀU TRI NGỘ

 

Nâng chén tao phùng giữa cảnh đông.

Luyến lưu tương ngộ thắm duyên nồng.

Bôn ba dâu bể vì cơm áo.

Bám trụ làng quê bởi bận lòng.

Tâm sự hàn huyên tình cách trở.

Bàng hoàng thương cảm đứa còn không.

Bao năm thiên lý đường xuôi ngược.

Thù tạc môn hương tuổi hạc đồng.

 

(đh.vt 22/12/2021)

Ngày trở lại sau mùa giản cách.