Ban Quản Trị
Thư từ bài vở xin gởi về:
Nguyễn Điền: nguyendienhl@gmail.com - Nguyễn Lê Hiếu: lehieunguyen91@gmail.com - Triều Nguyên: baolongspkt@gmail.com, luongdienhaison@gmail.com, ngkhacphuoc@gmail.com
Thứ Ba, 31 tháng 12, 2019
Thứ Tư, 27 tháng 11, 2019
MỞ TOUR DU LỊCH ĐẦU NGUỒN THÁC MA - TẠI SAO KHÔNG?
Mở tour du lịch đầu nguồn Thác Ma - Tại sao không?
Nguồn: tintuc.vn – TIN TỨC VIỆT NAM
Không thể cưỡng lại lòng nhiệt thành và lời giới thiệu của bạn
về vẻ đẹp huyền bí đầu nguồn Thác Ma, xã Hải Sơn, Hải Lăng, chúng tôi lên một
con thuyền nhỏ gắn máy đuôi tôm ngược dòng Ô Giang khi mặt trời chiếu những tia
nắng ấm đầu tiên nhuốm vàng vạn vật. Nước đầu nguồn Thác Ma mang theo hương vị
tình khiết của thiên nhiên ướp ngát dòng Ô Giang thơm ra tới mênh mông biển cả.
Chuyến du lịch thượng nguồn Thác Ma khởi đầu như thế.
Du lịch tự phát
Bước xuống đò máy tại
thôn Lương Điền, xã Hải Sơn, chúng tôi
đã cảm nhận được ngay lòng hiếu khách của những người bạn. Chúng tôi được
chăm lo chuẩn bị đầy đủ từng chi tiết nhỏ nhặt nhất, từ song nồi, bếp nướng,
than, lương thực, thực phẩm phục vụ cho chuyến hành trình.
![]() |
Du khách thích thú trước cảnh đẹp thiên nhiên trên dòng Thác Ma
Chủ thuyền là ông
Thành và ông Bình ở tuổi trung niên, nhưng đều có dáng người vạm vỡ của một người
chuyên nghiệp sông nước. Ông Bình nhận nhiệm vụ “đứng mũi chịu sào”, ông Thành
lái thuyền máy.
Con thuyền đưa chúng tôi ngược dòng Ô Giang lên đầu nguồn
Thác Ma, bên bờ bắc các thôn Cồn Tàu, Tân Điền, Trầm Sơn, Khe Mương của xã Hải
Sơn; phía bờ nam gồm các xã Mỹ Chánh, Xuân Lộc, Vực Kè, Tân Lương, Lương Sơn.
Hai bên bờ sông từng khóm tre xanh rờn giữ đất làng nối dài bất tận.
Đò ngược khoảng 40 phút, chúng tôi gặp thác đầu tiên là Thác
Hà, điểm chung là các thác này cạn chạm đáy thuyền nên phải tắt máy dùng sức
người để đẩy. Ông Thành nhanh nhẹn nhảy xuống lội bì bõm đẩy thuyền ngược dòng.
Vài du khách muốn trải nghiệm nhảy xuống theo để dòng nước suối mát lạnh ve vuốt
quanh chân.
Lúc này, chúng tôi mới hiểu vì sao người dân lại dùng thuyền
nhỏ để di chuyển vì thuyền lớn, hoặc thuyền vỏ gỗ không thể vượt qua các thác cạn
được, chỉ có thuyền “đặc chủng”, nhỏ nhẹ, vỏ nhôm mềm chịu được va đập với đá
cao mới hiệu quả.
Suốt chặng hành trình trải nghiệm thú vị này, du khách vượt
qua 7 thác cạn tiếp theo gồm: Vùng Tròn, Thác Cá, Thác Quả, Voi Đái, Thác Chồn,
Thác Chuối và cuối cùng là Thác Lạnh, đây là điểm dừng chân của đoàn chúng tôi
sau hơn một giờ ngồi thuyền.
Ông Thành cho biết,
lên thêm khoảng 2 km nữa thì sẽ bắt gặp nhiều cảnh đẹp hùng vĩ hơn nhưng đa số
du khách đều chưa lên đến đó. Thác Lạnh là điểm xa nhất du khách dừng chân bởi
gói gọn thời gian đi về trong ngày. Ngày
xưa người ta gọi Thác Lạnh là ranh giới chiến tuyến, ranh giới của lý tưởng người
theo cách mạng.
Sao gọi là ngưỡng ranh giới? Ông Thành giải thích, trên này
ngày xưa là chiến khu cách mạng. Từ nơi này về hạ nguồn đồng bằng địch chốt
quân dày đặc nhưng từ Thác Lạnh trở lên bộ đội đóng quân nên gọi là an toàn
khu, bởi địch không dám càn quét.
Các cựu chiến binh từng hoạt động, chiến đấu nơi này kể rằng:
Những người theo cách mạng được thử thách sau khi vượt một chặng đường hiểm
nguy thì đến Thác Lạnh. Nếu quyết tâm lên chiến khu thì lội ngược dòng vượt qua
Thác Lạnh, ngược lại không chịu đựng được thì thả mình xuôi dòng vài chục bước
chân sẽ trở lại đồng bằng.
Thế nên mới có thơ rằng: “Em nguyện theo Đảng đến cùng/ Vượt
qua Thác Lạnh lên vùng chiến khu”.
Quả thật phong cảnh ở đây vô cùng huyền diệu, khách du lịch
được hòa mình vào thiên nhiên tươi đẹp. Đoạn sông này cạn chưa tới đầu gối, du
khách có thể cúi người vốc từng nắm đá sáng láng, nhiều hình thù, hay lấy một nắm
cơm đặt tay xuống suối để chứng kiến hàng nghìn con cá dạn dĩ vây quanh. Hai
bên bờ tán cây rừng che phủ thoáng mát, hoa rừng, hoa đá đua nhau khoe sắc. Vài
con gà rừng thấy có người cũng chạy ra ngó nghiêng góp vui.
Điệu nghệ và chuyên nghiệp, ông Thành thiết kế một cái bàn
dã chiến ngay giữa dòng suối reo chảy. Bày biện lên đấy các thực phẩm mang
theo, chúng tôi vừa nằm trầm mình mặc cho suối nước vuốt ve, mát xa cơ thể, vừa
thưởng thức một bữa tiệc có một không hai trên đời.
Hòa mạng các tour du lịch
Ông Thành cho biết, bây giờ riêng ở thôn Lương Điền, xã Hải
Sơn có khoảng gần 10 thuyền nhỏ phục vụ khách du lịch đầu nguồn Thác Ma. Trước
đây chỉ có người dân làm rừng mới biết vẻ đẹp của Thác Ma. Sau đó thông tin này
lan rộng, lúc đầu người dân trong vùng, rồi huyện Hải Lăng, bây giờ nhiều đoàn
du khách của thành phố Huế đã liên hệ để tham quan đầu nguồn Thác Ma.
Hai năm nay, mỗi năm
hàng chục đoàn khách trải nghiệm thượng nguồn Thác Ma, lượng khách ngày càng
tăng thêm, đặc biệt vào mùa hè. Khách càng đông thì phải chia ra nhiều thuyền
nhỏ, trung bình mỗi thuyền chỉ chở tối đa 6 khách để đảm bảo an toàn.
Ông Thành trầm ngâm: “Người dân luôn mong chờ có ngày nhà nước
sẽ đầu tư một tour du lịch đầu nguồn Thác Ma để góp phần giải quyết lao động,
nâng cao thu nhập cho người dân. Trung bình mỗi chuyến như thế này, hai chúng
tôi chỉ lấy 500-600 nghìn đồng nhưng khách thấy vất vả nên thường đưa thêm tiền”.
Trong câu chuyện nở như ngô rang, ông Thành khẳng định có thể
đưa chúng tôi trở về thành phố Đông Hà bằng chiếc thuyền nhỏ này. Từ năm 15 tuổi
ông đã xuôi ngược vài chuyến như thế.
Theo ông Thành, nguồn Thác Ma chảy về sông Ô Giang và nối
thông với sông Vĩnh Định chảy về 2 cửa biển Thuận An (Thừa Thiên -Huế) và Việt
Yên (Triệu Phong). Sông Ô Giang nối sông Ô Lâu tại làng Câu Nhi chảy ra hướng bắc,
đến làng Trung Đơn theo kênh mới Mai Lĩnh nối với Cựu Vĩnh Định tại ngã ba Hói
Dét. Sông Nhùng nối với sông Vĩnh Định tại Quy Thiện, nhánh này chảy ra Triệu
Phong, nối tại Văn Vận chảy về Thuận An.
Như vậy muốn ra thành
phố Đông Hà chỉ cần xuôi theo dòng Ô Giang về đến phá Tam Giang, sau đó theo một
nhánh của sông Vĩnh Định để gặp sông Thạch Hãn qua địa bàn thị xã Quảng Trị và
huyện Triệu Phong. Theo dòng hải lưu sẽ gặp sông Hiếu tại ngã ba Gia Độ và ngược
lên chợ Đông Hà, thành phố Đông Hà.
Lời ông Thành có cơ sở, vì theo sách Đại Nam nhất thống chí:
“Sông Thạch Hãn, từ nguồn Viên Kiều ở bảo Trấn Lao (Lao Bảo) chảy về Đông, đến
ngã ba Cổ Thành chia làm hai nhánh: Một nhánh chảy lên Đông Bắc đến ngã ba Phú
Ông, gặp sông Ái Tử (Vĩnh Phước) ở phía Tây chảy vào, qua huyện Đăng Xương (tức
Triệu Phong ngày nay), rồi ngã ba Đại Độ (tức ngã ba Tướng) gặp sông Điếu Ngao
từ huyện Thành Hóa (Sông Điếu Ngao qua cửa Điếu Ngao, đến xã Cam Lộ thì gọi là
sông Cam Lộ), rồi qua ngã ba Giáo Liêm đổ ra Cửa Việt.
Một nhánh chảy xuống Đông Nam, chảy vào sông Vĩnh Định huyện
Phong Điền, gặp sông Nhùng (Mai Đàn) từ phía Tây tới, rồi theo hướng Nam tới
huyện lỵ Phong Điền thì gặp sông Ô Giang (Thác Ma), sau đó chảy về phía Tây ra
phá Tam Giang”.
Câu chuyện của ông Thành khiến chúng tôi nảy ra ý tưởng tại
sao không mở tour du lịch đầu nguồn Thác Ma, rồi kết nối với các tour du lịch huyện
Triệu Phong, thành phố Đông Hà, liên kết mở rộng các tour du lịch trên địa bàn
tỉnh.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XIII, XIV
và XV đều khẳng định: Phát triển ngành Du lịch thành ngành kinh tế quan trọng
trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Đặc biệt tại Hội nghị BCH Đảng bộ tỉnh lần thứ
10, khóa XVI ngày 6/7/2017 xác định mục tiêu đến năm 2020, du lịch trở thành
ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Quảng Trị. Đến năm 2020, giá trị ngành du lịch chiếm tỷ trọng 7-8% tổng GRDP
của tỉnh; đến năm 2025 chiếm tỷ trọng trên 10% tổng GRDP của tỉnh.
Đầu tháng 4 vừa rồi, chúng tôi đã tham gia thử nghiệm tour
du lịch văn hóa lịch sử tại huyện Triệu Phong gồm các điểm: Tổ đình Sắc Tứ Tịnh
Quang ở thị trấn Ái Tử, bến Ghềnh Thương cảng cổ và Miếu thờ Thái phó Nguyễn Ư
Dĩ ở Triệu Giang, di tích quốc gia Thành Cổ Quảng Trị,- Khu lưu niệm Tổng Bí
thư Lê Duẩn. Kết thúc hành trình, chúng tôi được thưởng thức 9 món đặc sản địa
phương tại chợ Sải như: nem, chả, cháo hến, bánh chưng, bánh bột lọc, bánh
bèo...
Ngoài ra có một phương án rất lý thú là xuôi thuyền theo
dòng Thạch Hãn từ xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị ghé lại bến thả hoa bờ Nam sông
Thạch Hãn. Du khách lên bờ viếng Di tích quốc gia Thành Cổ, làm lễ thả hoa, sau
đó tiếp tục lên thuyền ghé Bến Ghềnh thương cảng cổ. Tiếp tục xuôi thuyền ghé lại
bến Khu lưu niệm Tổng Bí thư Duẩn, thăm di tích chợ Sãi. Sau đó lên xe ô tô
tham gia chương trình giao lưu, thưởng thức nghệ thuật ẩm thực truyền thống chợ
Sãi.
Nếu liên kết tour du lịch đường thủy Thác Ma, huyện Hải Lăng
và du lịch văn hóa lịch sử, huyện Triệu Phong, các tour du lịch thành phố Đông
Hà sẽ tạo thêm nhiều điểm thu hút khách du lịch. Tạo một điểm nhấn quan trọng đối
với ngành du lịch của tỉnh Quảng Trị.
Nhà sư Phúc Thiện, ở
Thác Chuối, xã Hải Sơn lên đây thiền tu hơn 5 năm trước nói: “5 năm trước lên
đây, tôi đã nhận định sẽ có tour du lịch được tổ chức trong nay mai. Thế nên việc
đầu tiên tôi làm là trồng cây ăn trái trên diện tích đất mình mua được, đồng thời
bảo tồn rừng lá bội ngay trước mặt chùa. Mấy hôm trước có vài người đến định
đào cây bội mang đi bán, tôi phải khuyên nhủ: “Đây là rừng bội tự nhiên, anh chị
để lại cho chùa làm thuốc chữa bệnh”. Nhờ
vậy mà bây giờ trước mặt chùa có hàng nghìn cây bội tốt tươi, lá thơm ngon. Đằng
sau chùa có nhiều loại cây ăn trái đang mùa chín. Mấy năm nay khách du lịch lên
đây đều được chùa tặng trái cây, lá bội khô mang về làm quà nên họ rất thích.
Sư Phúc Thiện nói ý nghĩa: “Người dân đang đón đầu, làm vệ
tinh cho ngành du lịch đấy nhé”.
Minh Tuấn / baoquangtri.vn
Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2018
Làng buồn nơi thượng nguồn Thác Ma
Nguồn: Báo Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh.
http://www.giaoduc.edu.vn/lang-buon-noi-thuong-nguon-thac-ma.htm
Nằm về phía thượng nguồn sông Thác
Ma, từ hàng chục năm nay việc đi lại của 40 hộ dân ở thôn Khe Mương, xã Hải Sơn
(huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị) đều phải… lội sông!
Mùa nắng, nước cạn, việc đi lại còn
tương đối dễ dàng. Mùa mưa, hoặc ngồi bó gối ở nhà, hoặc đánh cược sinh mạng của
mình mới có thể sang sông. Không ít trường hợp trượt chân suýt chết đuối, có
trường hợp trẻ em đành bỏ học vì điều kiện đi lại quá khó khăn…
1. Ngược quốc lộ 1A, qua trung tâm
xã Hải Sơn tầm 10km về phía Tây, chúng tôi tìm đến thôn Khe Mương. Những người
nông dân đang cắm cúi cuốc tơi đất để trồng sắn (khoai mì). Thấy khách lạ hỏi
đường, mọi người liền dừng tay cuốc, tận tình chỉ bến sông - nơi thôn Khe Mương
bị chia đôi bởi dòng Thác Ma. Họ không quên hỏi khách: “Bao giờ bà con có cầu để
đi?”.
Chờ suốt 3 giờ đồng hồ nơi bến
sông, đoạn chia đôi thôn Khe Mương, chúng tôi thấy không một bóng người qua lại.
Bến vắng. Thi thoảng có vài người phụ nữ cao tuổi ra bến sông giặt giũ. Thấy
chúng tôi đợi lâu, bà Trần Thị Lài (63 tuổi) nói: “Bây giờ bà con đang đi làm đồng,
đến tối mịt họ mới trở về. Muốn sang sông chỉ có cách đợi đến lúc đó để lội
cùng bà con, hoặc thấy chiếc thuyền nào đi đánh cá đêm qua lại thì xin quá
giang, mà cũng hiếm lắm. Năm nay nước lớn nên việc qua sông khó khăn hơn”.
Bà Lài cho biết thêm, nhiều khi
sáng đi làm thì trời nắng, chiều về mưa tầm tã làm nước sông dâng cao. Vì vậy
bà con cứ ngồi miết bên sông đợi có thuyền ai ngang qua để đi nhờ. “Tui có vài
sào đất bên kia sông, có hôm nước dâng cao, ông nhà tui đứng bên này trông qua,
còn tui ngồi bên kia trông lại, trời rét như cắt ngồi suốt mấy tiếng đồng hồ,
khi có thuyền chài đi ngang tui mới đi nhờ về được”, bà Lài kể.
Khổ thế nhưng bà Lài bảo, không thể
bỏ ruộng vì có mảnh ruộng thì người dân mới có được củ sắn, thúng lúa duy trì
cái ăn và chăn nuôi quanh năm.
2. Ông Trần Quang Hải, Trưởng thôn
Khe Mương, cho biết: “Toàn thôn có 70 hộ dân với gần 700 nhân khẩu thì phía bờ
Nam sông Thác Ma có đến 40 hộ dân sinh sống. Từ bao đời nay, người dân đi làm
ruộng đều trong cảnh lội… sông. Mùa hè nước cạn, bà con qua lại chăm nom ruộng
vườn, hỏi thăm nhau tương đối thuận tiện. Còn mùa mưa thì gần như tách biệt. Chỉ
có cánh thanh niên khỏe mạnh dùng bè chuối hoặc đánh liều bơi qua sông. Nhiều
người dân đi làm về lội sông buổi tối trời lạnh nên trượt chân, bị nước cuốn
trôi suýt chết đuối. Mỗi lần có họp hành thì thôn phải thuê đò để đưa bà con
sang”.
Theo nhẩm tính của người dân trong
thôn Khe Mương, đã có ít nhất 5 người chết đuối ở khúc sông này. Nhưng không ai
bỏ ruộng, bỏ làng vì diện tích đất nông nghiệp rất ít, nếu bỏ ruộng, họ không
biết mưu sinh bằng nghề gì. Vả lại, thôn đã có hàng trăm năm, thậm chí Khe
Mương từng là nơi hoạt động cách mạng của nhiều cán bộ lão thành, được UBND tỉnh
công nhận là di tích lịch sử. Vì vậy không ai muốn bỏ mảnh đất cha ông đã dày
công khai khẩn.
3. Đến thôn Khe Mương, câu chuyện
buồn nhất của người dân nơi đây có lẽ là con đường học hành của trẻ em. Ông Trần
Quang Hải cho biết, những năm trước, để trẻ học được cái chữ, các bậc phụ huynh
thay nhau cõng con sang sông và đón con về mỗi ngày. Sau mùa lũ năm 2009, thôn
được cấp trên cho một chiếc thuyền để đưa đón học sinh qua lại. Nhưng được một
thời gian thì thuyền bị thủng, chèo được vài nhịp nước lại tràn vào. Bà con
nghèo, kinh phí thuê người chèo đò đưa đón con em mỗi ngày đã khó, nên không có
tiền tu sửa. Thế là đành phải tiếp tục… lội. Năm 2012, một học sinh lớp 2 tên Hồ
Xuân Chiến tan học, đợi bố mẹ quá lâu nên lội liều. Thế là trượt chân trôi mấy
trăm mét. May thay thuyền chài đánh cá phát hiện và vớt được. Bà con trong thôn
một phen hú vía. Không thể theo con mỗi ngày nên năm học này, các bậc phụ huynh
không cho con sang sông nữa mà cho đi men theo con đường cấp phối qua thôn Tân
Lý (xã Hải Sơn) rồi tiếp tục băng qua Mỹ Chánh vòng lại trung tâm Hải Sơn để học.
Quãng đường vì thế xa hơn vài cây số.
Chấp nhận đi xa thêm vài cây số, sự
học của con em thôn Khe Mương đỡ nguy hiểm hơn. Nhưng không phải vậy! Con đường
cấp phối từ Khe Mương qua Tân Lý được đầu tư 20 triệu đồng qua vài mùa mưa nắng
đã xuống cấp. Cách nay vài tháng, một học sinh trong thôn đi học về, xe mất lái
khi đang xuống dốc. Cú ngã khiến em phải khâu mấy chục mũi chi chít trên gương
mặt. Một em khác ngồi sau xe cũng phải khâu hơn chục mũi. Sau khi ra viện, dù bố
mẹ có động viên đến đâu, cậu bé ấy cũng không chịu đến lớp, phần vì con đường đến
trường quá vất vả, phần khác vì ngại bởi khuôn mặt đầy sẹo. Ông Trần Quang Hải
cho biết: “Sự học của con em trong thôn Khe Mương chịu nhiều thiệt thòi. Tình
trạng học sinh học xong cấp 2 rồi nghỉ ở nhà vẫn còn nhiều. Trẻ mầm non thì phụ
huynh gửi qua thôn Tân Lý hoặc gửi về quê ngoại, nội nơi gần các trường mầm non
để theo học. “Nhiều cuộc họp cử tri, bà con đưa ý kiến mong muốn được hỗ trợ
xây cầu, nhưng rồi vẫn cứ chờ đợi”.
Chiều buông. Những người phụ nữ sau
một ngày làm việc, vội vã bê mớ rau rừng ra mé sông nhặt nhạnh chuẩn bị bữa cơm
chiều. Sông vẫn đổ về xuôi, như chứng nhân ôm vào mình những giấc mơ gửi gắm của
bao người dân thôn Khe Mương về một cây cầu nối đôi bờ Thác Ma!
Bài của Hàn Giang
Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2018
TRUYỀN THUYẾT SÔNG THÁC MA - Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước
TRUYỀN THUYẾT SÔNG THÁC MA
Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước
- Có thích ăn thịt heo rừng không?
Thằng bạn nhà báo gọi tôi.
- Thích. Mầy đang ở đâu?
- Sài Gòn. Nhưng tao mời mầy ăn thịt
heo rừng ở thượng nguồn sông Thác Ma.
- Thác Ma ở đâu?
- Thác Ma còn gọi là sông Mỹ Chánh
chảy qua làng mầy mà mầy không nhớ hả?
- Biết đâu còn có sông Thác Ma nơi
khác.
- Cái tên dễ sợ vậy mà ai dám đặt.
Chỉ có ở Quảng Trị mình thôi.
- Vậy lúc nào mầy về?
- Chiều thứ sáu tới mầy phải có mặt
ở Quảng Trị để sáng thứ bảy là đi.
Thế là sáng thứ bảy đầu tháng Sáu
năm ngoái, hai thằng tôi đi xe máy thồ từ Mỹ Chánh theo con đường dọc bờ
sông hướng về phía tây mà tiến. Đi đến trưa thì nghỉ và chuyển sang đi bộ vì đến
đoạn xe máy không thể chạy được. Tôi chẳng mấy khi đi bộ băng rừng, thấy đường
này ngán quá, nhưng bạn tôi, vốn là dân hướng đạo, nói đường này đối với nó
cũng như đường làng, chẳng nhằm nhò gì, và động viên tôi cố lên. Thế là tôi
đành phải theo. Đi bộ leo núi gần hết buổi chiều mới đến được trang trại của
anh Đoàn, một người quen của bạn tôi.
Đó là một khu đồi khá bằng phẳng mà
anh dùng để nuôi loại heo lai giữa heo rừng và heo nhà. Heo thả đi kiếm ăn tự
do. Chúng ăn bất cứ côn trùng nào kiếm được, và giống như chó, chúng còn thích
phân người. Mỗi lần ra rừng đi ngoài, nhớ mang theo cây gậy, vừa ngồi vừa huơ
huơ, nếu không thì có thể bị heo húc từ phía sau để tìm thứ chúng thích.
Buổi tối ngồi bên bếp lửa hừng hực,
vừa nhắm rượu ngoại mà bạn tôi công khó mang từ Sài Gòn, vừa nhai thịt heo nướng
ướp củ nén thơm phức. Mùi rượu, mùi thịt nướng, mùi nén quyện vào nhau thành một
thứ ngon không thể tả. Và càng ngon hơn vì biết chắc thứ thịt heo này 100%
không có chất bảo quản hay thuốc tăng trọng như thịt heo ở thành phố.
Sau chuyện thịt heo, tôi hỏi anh chủ
trại vì cớ gì mà người ta đặt tên con sông ở đây là Thác Ma, nghe dễ kinh. Tôi
cũng phân bua rằng mặc dù tôi sinh ở vùng này nhưng chỉ ở đây gần 15 năm, mà ở
xa quê đến 40 năm, nên không có thì giờ để tìm hiểu hết mọi thứ.
Có vẻ bắt trúng đài nên anh chủ trại
rót rượu đầy cốc, hô cạn chén, và bắt đầu kể. Anh chủ trại cho biết chuyện anh
sắp kể được truyền miệng từ ông vãi của anh, người đã tham gia trong loạn Chày
Vôi của Đoàn Trung- Đoàn Trực và phải bỏ lên rừng sống với người Kờ-tu ở vùng
biên giới Việt Lào.
Mụ C’Lâu chết ở tuổi bảy mươi. Vào
lễ khâm liệm, lúc sắp bỏ vào hòm, người nhà phát hoảng khi bỗng nghe mụ kêu
khát nước. Nhà đám chuyển từ lễ tang sang lễ ăn mừng bà nội sống lại.
Đúng vào ngày hôm đó, trong buôn
làng có một cái chết rất thương tâm của một cô gái tên là Riah.
Cha Riah là người chuyên săn bắn và
mang thịt xuống miền xuôi để bán. Một người từ bên kia biên giới nhờ lão chuyển
những gói chứa chất dẻo màu nâu như phân gà sáp cho một người khác ở nơi lão đến,
và để trả công, lão được biếu không một gói, được dặn là bỏ vào thuốc lá hút
cho khỏe người. Lão không biết rằng đó là thuốc phiện và càng hút lão càng nghiện,
lão phải bỏ tiền ra mua. Nương rẫy lão cầm cố hết, đến hồi phải đưa con gái là
Riah vào ở đợ cho nhà Alang, một người giàu có trong buôn, để lấy tiền mua thuốc
phiện. Aviet, một chàng trai con nhà nghèo cũng đang ở đợ nhà Alang, đem lòng
yêu Riah. Thế nhưng mối tình đó vỡ tan khi cha Riah bắt nàng về bán cho người
ta để trừ nợ thuốc. Riah bỏ trốn cùng với Aviet đến sống trong một nhà Zơng
trên một đám rẫy bỏ hoang. Cha Riah đi tìm và bắt nàng về. Khi đi ngang qua Vực
Kè, nàng nhày xuống tự tử. Dưới bờ vực sâu hơn trăm mét là một thác nước chảy
xiết, cuốn xác nàng không biết về đâu.
Kể từ sau cái chết của Riah, đêm
nào Aviet cũng đến ngồi trên Vực Kè, gọi tên nàng và khóc lóc thảm thiết. Anh
ngồi đó đến nửa đêm mới về nhà Alang. Một đêm, lúc sắp ra về, dưới ánh trăng
thượng tuần hư ảo, anh khi lạnh người khi thấy một bóng người đang đi về phía
anh. Lúc đầu anh nghĩ là ma nhưng đến gần anh biết đó là người, và không ai xa
lạ, chính là mụ C’Lâu vừa mới mất và sống lại cách đó vài hôm.
- Này mụ C’Lâu. Mụ đi đâu vào giờ
này?
- Không phải là mụ C’Lâu đâu anh.
Em chính là Riah đang mượn xác mụ C’Lâu để về với anh đây. Thân xác mụ bây
giờ đã trẻ lại mấy chục tuổi rồi nhờ có linh hồn của em. Không tin anh hãy ôm
em đi.
Hai bóng quyện vào nhau, khóc rồi
cười, cười rồi khóc cho đến khi gà rừng gáy sáng mới chia tay.
Kể từ ngày Mụ C'Lâu sống lại, người
nhà thấy mụ mỗi ngày một trẻ ra, da thịt căng và hồng hào như con gái. Đặc biệt
là mụ cấm khẩu, không nói một lời. Không ai phát hiện mụ ra khỏi nhà vào ban
đêm vì không ai dám ngủ gần mụ, sợ rằng mụ sẽ bắt về cõi âm. Thế nhưng, vào đêm
thứ bốn mươi chín sau ngày mụ sống lại, một người cháu trai tình cờ phát hiện
và đi theo mụ. Anh thấy mụ đi về phía Vực Kè và một người thanh niên đang ngồi ở
đó chờ mụ. Người đó là Aviet, người yêu của Riah, cô gái đã tự tử trước đó bốn
mươi chín ngày. Hai người ôm nhau tâm sự, khóc cười, lăn lóc trên kè đá, quên hết
trời đất. Đến khi trăng sắp lặn và gà rừng gáy sáng thì bỗng cả hai ôm nhau nhảy
xuống bờ vực. Người cháu chạy lên bờ vực ngó xuống, không thấy gì ngoài bóng tối.
Lẫn trong tiếng thác nước réo ầm ào, hình như vẫn còn nghe tiếng tiếng khóc tỉ
tê, tiếng cười man dại ma quái dội vẳng lên từ vực sâu.
NKP
Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2018
CHÙM THƠ HIẾN MINH
Ngày Cuối Đời cha
Cha đi trăng ẩn giữa vòm mây
Tám sáu xuân trôi đến một ngày
Chống gậy trúc quanh từng ngõ xóm
Viếng bà con cạnh lối tường xây
An nhiên chờ đợi con xa ngái
Tự tại nằm trông cánh hạc bay
Một cuộc viễn ly trong thực mộng
Ngàn năm khuất Núi Thái cao dày!
Hiến Minh. 31/08/2018
Thuốc Thời Gian
Hiến
Minh
Khốn nỗi ai kia cứ hợm mình
Ngông nghênh trò diễn tưởng là vinh
Thương con mắt xốn trông nghịch cảnh
Xót lỗ tai ê chuyện bất bình
Tiền bẫn mua đâu lòng tự trọng
Danh quàng lẫn tránh bóng từ minh
Thời gian hy vọng thang thần dược
Hoá kiếp hoàn lương nhóm động kinh.
Vu Lan Nhớ Mẹ
Hiến Minh
Mẹ mất! Chim xao cánh giữa trời
Quê hương. Một nửa vỡ trong tôi
Ô Lâu từ đó trôi hiu quạnh
Ngõ xóm bây giờ bước lẽ loi
Cỏ mọc sân rêu vàng lá đổ
Nhện giăng hiên vắng hẫm tường vôi
Cõi tiên người có buồn gia thế
Phù đỡ đàn con giữa sóng khơi .-
Thư Người
Khuất Bóng
Tưởng nhớ một nhân cách lớn - người chú của tôi.
Hiến Minh
Thư chú, Con lưu từ bấy giờ ...
Hạ Long ... ngày ...tháng ... Hoá thành mơ!
Trần gian giấc mộng vòm mây ái
Gia nghiệp phù hư gợn sóng xô
Sợi nhớ đan xen từng nét chữ
Bóng thương mường tượng những dòng thơ
Đêm đêm nhớ chú con lần đọc
Mười bảy năm tâm tưởng chẳng nhoà.
**
Tâm tưởng chẳng nhoà phai chú ơi ...
Ân tình cốt nhục giữa lòng tôi
Quảng Ninh còn dấu hoa hồng cát
Bãi Cháy lần trang giấy trắng vôi
Hoa cát nung lòng sầu cách trở
Sông đời mơ ảnh ngóng buồm trôi
Trang thư. Con hẹn về thăm mộ ...
Đốt nén hương dâng tấu giữa trời.
Thứ Hai, 27 tháng 8, 2018
HUYỀN THOẠI SÁU DÒNG SÔNG - Nguyễn Khắc Linh Vũ
![]() |
| Sông Ô Lâu nhìn từ Lương Điền. Tất cả ảnh trên trang này của Mai Lình |
HUYỀN THOẠI SÁU DÒNG SÔNG
Bài thơ ngày cũ
Nguyễn Khắc Linh Vũ
Kiệu hồng xoay chuyển Trời Ô Ri
Qua sáu dòng sông luống ngậm
ngùi
Của sính hồi môn tình Chua Chế.
Đồ Bàn trăm Họ có buồn vui
Qúa giang Bến Hải vời Non Nước
Sông Hiếu duyên sâu gởi một đời
Bước nặng gót hài qua Thạch
Hãn
Thượng Hoàng ơi. Giá của khuê
khôi .
Đường qua Mai Lĩnh ...Tình Lang
hỡi
Vĩnh Định chừ sang lỡ hẹn rồi
Mai đến Trường Sanh vào Đât Ri
Ô Lâu còn ngại Thác Ma Hời
Khuynh thành gió cuốn rèm man
mác
Khuynh Quốc Trường Sơn thẩm một
màu
Cả sáu Dòng Sông về Đại Việt
Giai nhân «hê» gót ngọc nén
tình sâu
Bảy trăm năm lễ còn vang bóng
Sáu bận đa giang động một thời
Cứ mỗi đời nghe huyền thoại
cũ
Giai nhân «hê» Công Chúa Việt Ta
ơi.
Năm Bính Ngọ 1306, tháng sáu, niên hiệu Hưng Long thứ 14, theo ý chỉ của Phụ Hoàng Trần Nhân Tôn, Vua Trần Anh Tông gả Công Chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm Thành là Chế Mân.Vua Chiêm đem đất Châu Ô và Châu Ri làm của dẫn cưới. Ngoài ra còn có
nhiều hương qúy, bạc vàng, của lạ.
Sài gòn 2007.
CHIA SẺ - Vũ Hùng / THẮP NÉN TÂM HƯƠNG - Trần Ngộ / Ô LÂU THÊM TÌNH BI SỬ - Kẻ Văn
Đại hỷ ai ngờ hóa đại tang,
Chuyến xe định mệnh quá bàng hoàng,
Hải Lăng chú rể tim ngừng nghỉ,
Phù Mỹ cô dâu lệ ngập tràn.
Nhức nhối nỗi đau lan mặt báo,
Tái tê tiếng khóc phủ ngôi làng(*)
Chuyện đời khó đoán điều may rủi
Chia sẻ đôi dòng một nén nhang!
Sài Gòn,02.08.2018
Vũ Hùng
(*)Thôn Lương Điền, xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị: 13 người chết.
***
THẮP NÉN TÂM HƯƠNG
Thắp nén tâm hương bái vọng hồn
Mây trời tang tóc phủ Lương thôn
Tai xui ai đã con xa mẹ
Nạn cướp người đang vợ mất chồng
Hai họ đau lòng rưng lệ ngấn
Xóm làng cám cảnh giọt châu tuôn
Than ôi ! Đại hỷ màu tang trắng
Khắp chốn chia buồn dạ xót thương
Trần Ngộ
2 .8 .2018
Bái vọng mười ba linh hồn về miền cực lạc.
***
***
KÍNH DÂNG CHƯ HƯƠNG LINH GẶP NẠN TRONG KHI ĐI ĐÓN DÂU
Ô LÂU THÊM TÌNH BI SỬ
Thu ảm đạm về nhìn buổi hạ đi
Tức tưởi quê nghèo đau đớn biệt ly
Mười mấy mạng người hồn lìa thảng thốt
Xe hoa vô thường thảm thiết hồi quy
Áo cưới chưa mặc vội trùm áo chế
Tội quá em ơi! dâu thảo Mỹ Quang"1"
Trở về quê chồng sẻ chia oan khốc
Bên di ảnh,quay quắt lệ tuôn tràn
Khóc van gọi Mẹ nhói mái Từ đường
Lư hương yết tổ khói nhuộm tang thương
Vợ gọi chồng, con gào Cha mẹ hỡi
Tang tóc cút côi cấy ngõ đoạn trường
Thu rơi* buồn bã bủa lạnh dòng sông
Khuya khoắt bi ai nhức nhối cõi lòng
Tiếng nấc gọi chồng xót xa vời vợi
Con gào gọi Mẹ buốt tận tầng không
Em về tìm chồng trọn đạo tào khang
Cúi lạy linh đài xin Mẹ phục tang
Nghẹn ngào tiếng khóc xứơc cào gan ruột
Tội nghiệp tình ơi ! sao quá bẽ bàng
Ô Lâu lại mở thêm tờ tình sử
Bến Cộ con đò gác mái buồn thiu
Đồi sim Thác Ma tím bầm dòng lệ
Tím rịm đôi bờ mây phủ quạnh hiu.
Kẻ Văn
* tên Sông Ô Lâu
"1" Xã Mỹ Quang -H Phù Mỹ -Bình Định
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)








