Ban Quản Trị

Thư từ bài vở xin gởi về:
Nguyễn Điền: nguyendienhl@gmail.com - Nguyễn Lê Hiếu: lehieunguyen91@gmail.com - Triều Nguyên: baolongspkt@gmail.com, luongdienhaison@gmail.com, ngkhacphuoc@gmail.com


Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013

TIẾNG CHUÔNG CHÙA - Trương Đăng Sử


TIẾNG CHUÔNG CHÙA

Đêm khuya văng vẵng tiếng chuông ngân
Thức tỉnh chúng sanh thoát nợ trần
Đến với thiền môn cầu giải thoát
Nương thiền bát nhã diệt tham sân
Từ bi trí huệ hằng khai mở
Tà đạo si mê hãy bớt dần
Nhật dạ lục thời tâm tỉnh lặng
Hướng về bát nhả để tu thân 

Phật Tử:Trương Đăng Sữ
Hải Sơn Quảng Trị
mời họa

TIẾNG CHUÔNG NGÂN
Nghe tiếng chuông chùa văng vẳng ngân
Đêm khuya cảnh tỉnh cuộc hồng trần
Nguồn tâm tỉnh lặng lìa tham ái
Gốc pháp chân như thoát dục sân
Bát nhả xua tan bao vọng tưởng
Bồ đề giác ngộ ác xa dần
Rỏ cùng lý đạo dương đèn tuệ
Phước huệ song tu khỏi lụy thân

Trần ngộ
Pháp danh Nhuận Mỹ
kính họa

TỰ TÌNH (thơ mời họa)


 TỰ TÌNH (thơ mời họa)

Qua chuyến đò ngang buổi sáng nào 
Thầy trò dan díu nắm tay nhau
Vi vu gió thổi thuyền chênh mạn
Bàng bạc mây trời sóng nước xao
Lên thác hay ơn người đứng mũi
Xuống ghềnh nhớ nghĩa kẻ cầm sào
Lấy ai kể nỗi niềm tâm sự
Bến cũ sông xưa mãi dạt dào
Trần Ngộ - Bảo Lộc, Lâm Đồng

TÌNH QUÊ
Tình quê lai láng biết nhường nào
Nghĩa nặng tình sâu vương vấn nhau
Tay bắt mặt mừng vui hội ngộ
Gió ru thuyền sóng vỗ lao xao
Tìm đường mở nước nhờ đưa lối
Đứng mũi qua sông nhớ chịu sào
Cơ hội trăm năm còn phía trước
Trời cho sức lực mãi dồi dào

Lê Chí Phóng (nhà thơ Thanh Phong)
Hải Tân - Hải Lăng - Quảng Trị

THẦY XƯA
Nhớ mãi trường xưa một thuở nào
Thầy trò gần gũi mến thương nhau
Trãi bao năm tháng lòng lưu luyến
Đến tận bây giờ dạ xuyến xao
Thế sự nỗi chìm cùng gió bão
Kiến văn thăng tiến mấy tầm sào
Ân sư nghĩa đệ hằng ghi tạc
Tình cảm thầy xưa vẫn dạt dào

HỒ TRỌNG TRÍ
Kim Long - BRVT

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

TRI ÂN GIÁO DỤC (THƠ XƯỚNG HỌA)


Đâu đó khắp nơi những người học trò tổ chức ngày "Tri ân giáo dục" một tựa đề bài xướng họa của nhà thơ Lê Đăng Mành muốn viết để dành tặng những người thầy đã bao năm lái đò đưa bao người khách sang sông. Trang nhà xin giới thiệu đến quý bạn đọc nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11.

BÀI XƯỚNG
TRI ÂN GIÁO DỤC


Tôn vinh nhà giáo triệu lời ca
Khảm cốt ghi tâm nguyện chẳng già
Bục giảng ươm mầm tươi đất nước
Sân trường nhú lộc rực quê nhà
Miệt mài bụi phả   tóc pha tuyết
Cần mẫn bút khai  tâm nở hoa
Nhật nguyệt rạng ngời ơn dạy dỗ
Trồng người quả ngọt mãi thăng hoa.
Lê Đăng Mành - Quảng Trị     

BÀI HỌA: ƠN THẦY !
Kính tặng:THẦY NGUYỄN TÔN LỤY

Tôn sư đồng hát bản hòa ca
Cống hiến công lao quên tuổi già
Thước ngọc một thời tô nghĩa nước
Khuôn son muôn thuở thắm tình nhà
Lương tâm giáo dưỡng trong như tuyết
Phẩm cách gieo trồng đẹp tựa hoa
Bồi đắp nhân tài bao thế hệ
Cho đời thơm ngát những bông hoa.

                                           Trần Ngộ LÂM ĐỒNG


Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

VÔ NGÃ - Trần Ngộ



 VÔ NGÃ

Tuổi già an phận chốn thiền môn 
Kệ tụng kinh trì sắc thị không 
Rủ sạch não phiền thanh thản sống 
Quét không cố chấp hết gai chông
Xã thân tứ đại say mùi đạo 
Niệm PHẬT nhất tâm mến áo sồng
Đã biết luân hồi là bể khổ
PHÁP thường vô ngã chớ hoài trông

TRẦN NGỘ - BẢO LỘC, LÂM ĐỒNG
Kính tặng thầy: NGUYỄN TÔN LŨY




BÀI HỌA
Vô Sanh

Bụi trần rũ sạch chạm không môn
Đi đứng nằm ngồi nhớ tánh không
Khởi niệm tâm an không vướng tướng
Vô cầu thân khỏe mặc chênh chông
Mây tan trăng hiện chơn sắc đạo
Gió* trú THIỀN soi pháp phục sồng
Bát nhã hành thâm ngời diệu trí
Tử, sanh bất nhị: biết đừng trông.
                                          Lê Đăng Mành - Hải Tân
*TÁM GIÓ:

BẾN XƯA - Trần Ngộ


          BẾN XƯA
   Ô Giang nước lững lờ trôi
Chiều quê gió lạnh ai ngồi buông câu
   Hỏi mình nguồn chảy về đâu ?
Chùm mây ngũ sắc in sâu bóng chiều
   Mưa làm cơn sóng liêu xiêu

Trời chắc muốn ghé nói điều chi đây
   Bến xưa in dấu trăng gầy
Con đò đợi khách tháng ngày chờ trông
   Gió đưa rụng lá ngô đồng
Như là rụng cả cõi lòng của em

Thơ viết tặng quê
Trần Ngộ - Hà Lỗ, Hải Tân gửi đăng - email: tranngobl@yahoo.com.vn

   CHIỀU LẠI NHỚ CHIỀU
   Chiều về nước cuộn bèo trôi
Nhặt khoan nhớ giọng bồi hồi từng câu
   Tiếng hò thưở ấy còn đâu
Ai mong mỏi nhớ tình sâu hởi chiều
   Trời chiều vệt nắng bóng xiêu
Như tan mộng đẹp yêu kiều từ đây
   Xót thương thân mẹ hao gầy
Chuyện xưa tình cũ đong đầy đợi trông
   Mùa quê lúa chín ươm đồng
Hạt no hạt mẩy nặng lòng thương em
   Thì thầm gọi gió bên thềm
Buồn trông chất ngất chiều thêm nhớ chiều !

Bài họa của nhà thơ Thanh Phong (Lê Chí Phóng)

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

SUỐI NGỖ ... ĐÊM VỀ SÁNG - Lê Văn Ngọc



SUỐI NGỔ… ĐÊM VỀ SÁNG

        -Tặng Chư Huynh Tỷ Đệ Muội Sài gòn và Nha trang

        -Và nhớ lại thời còn Oanh vũ, các đoàn sinh Đổng, Sĩ, Ngạc, Kháng, Am,Thiên Định, Lợi, Đối, Ế, Ngạn, Hoa, Xê, Mùi, Mười, Sẻ, Nga, Hà, Chạy…, Chũng, Hòa, Nậm, Kim ...

        -Quí Anh chi Huynh trướng đầu tiên của gđpt Lương điền: bác Khước (GT), anh Quang, Đích,Tẩn, Khả, Giáo,Thoảng, Đá, Chánh, Quảng, Xiển...,  Hòe (Chài), Luận, Dư, Mười, Nồng … 

                                                                                         ********


             Đêm về như mọi đêm, trời đầy sao, không gian yên tỉnh tăng thêm sự huyền bí của núi rừng… Suối Ngổ về đêm, tiếng đêm, tiếng rì rào của gió núi thổi nhẹ qua rừng đêm, tiếng chim đêm gọi bạn tình, tiếng côn trùng rả rích như sám hối, như nguyện cầu mau mau thoát kiếp luân hồi, xa xa, trăng hạ huyền đã lên, ánh sáng vàng trải dài màn đêm, tiếng đêm, tiếng im lặng của rừng đêm… Ngoài sân chùa, những căn lều vải của chư huynh đến từ Saigòn …,  tiếng võng đưa nhè nhẹ hòa cùng tiếng muổi vo ve, tiếng mớ ngủ, tiếng ngáy đều như lời kinh cầu bình an trong đêm… Trong Chùa, trên điện Phật, điện Mẫu, đèn rạng hương chong hoa đẹp, trang nghiêm, thanh tịnh tột cùng…

              Như thường lệ, khoảng ba giờ sáng, Chú Tư (một Phật tử, Cư sỉ địa phương quyền trụ trì chùa Sắc Tứ Chí Linh sơn tự này,vì chùa xa thành phố và ở trên núi, muốn lên chùa phải đi bộ và leo dốc khoảng 4 km đường rừng, Thầy của GH trẻ thì bận học, già thì không leo núi nổi và phương tiên khó khăn) thức dậy cùng anh Ba và một vài người khách viếng thăm chùa ở lại qua đêm. Chúng tôi là những môn sinh Khí công từ Nha trang lên đây tìm không gian yên tĩnh để luyện tập công phu và nhân có chư huynh đệ Khí công Sài gòn ra dã ngoại tu tập… Sau khi đánh răng, rửa mặt xong, mọi người ngồi quây quần bên chiếc bàn nhỏ, chú Tư yên lặng pha trà, chế cà phê với động tác khoan thai, gọn nhẹ, chú chế từ bình ra chén tống và từ chén tống chiết ra từng chung nhỏ… Chú ngửng đầu lên, vẫn trong yên lặng đưa mắt đưa tay mời mọi người, chúng tôi tiếp nhận lấy… tiếng lách cách nho nhỏ… yên lặng từ từ, chúng tôi đưa chung trà lên trán khấn thầm cúng dường chư Phật, Chư Bồ tát … rồi đưa lên môi, ngụm trà đầu tiên trong ngày, hương trà thơm ngọt, cảm giác lan tỏa thấm đậm lâng lâng như được thắp thêm sức mạnh gia trì lực của tâm linh. Xong buổi trà đạo mini, mọi người ai lo việc nấy, chú Tư, anh Ba lo việc hương đăng cho buổi công phu sáng, chúng tôi cũng sửa soạn công phu, như mọi lần trước, tùy theo trình độ tu tập. Trong khi chùa thỉnh chuông sáng, chư huynh tọa thiền, và sau đó, khi nhà chùa tụng kinh công phu sáng thì chúng tôi mỗi nhóm một việc: nhóm luyện Đại bi huyền công, nhóm tập Chuẫn đề thần công, nhóm tự chửa bệnh bằng khí công hoặc tụng kinh với nhà chùa… Sau mấy vồ nhập chuông nhè nhẹ, anh Ba cất tiếng xướng bài kệ nguyện chuông:

                 Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới            

                 Thiết vi u ám tất giai văn

                 Văn trần thanh tịnh chứng viên thông

                 Nhất thiết chúng sanh thành chánh giác…

                               (nhập chuông)

                 Văn chung thanh phiền nảo khinh

                 Trí huệ trưỡng, bồ đề sanh

                 Ly đia ngục, xuất hỏa khanh

                 Nguyện thành Phật độ chúng sanh…

                               (nhập chuông)           

                 Tiếp theo là bài kệ cảnh tỉnh:

                 Văn chung ngọa bất khởi

                 Hộ pháp thiện thần sân

                 Hiện thế duyên phước bạc

                 Lai thế thọ xà thân…

                              (bòong….)                                              

                (Nghe chuông không ngồi dậy

                 Hộ pháp thiện thần hờn

                 Đời này ít duyên phước

                 Đời sau làm rắn thôi..)

                 Hồng chung sơ khấu… bồ tát..

                              (bòong…)                                               

                                           

            Bài kệ cảnh tỉnh trên, đã lâu, rất lâu…không biết anh Ba sưu tầm ở đâu ra bài kệ cảnh tỉnh này, vì theo nghi thức thỉnh Đại hồng chung (kinh nhật tụng) không có bài kệ nguyện chuông và bài kệ cảnh tỉnh trên ,bây giờ nghe lại, lòng tôi nao nao…một thời thơ ấu hiện ra …

            Lương Phước Tự, ngôi chùa làng tọa lạc phía tả ngạn ngả ba sông Ô Lâu và Thác ma (nay là chùa làng Lương Điền thuộc xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị), tuy là chùa làng nhưng có thầy trụ trì và thường có thỉnh Đại hồng chung buổi sáng và chiều. Làng tôi thời đó có mấy mẫu ruộng tốt cấp  cho chùa để hương khói, dân làng đa số làm nghề nông quanh năm đồng sâu ruộng cạn, đậu mè khoai sắn. Khi tiếng chuông sáng vang lên, cả làng và phụ cận thức dậy nấu cơm sáng, đánh trâu ra đồng làm việc và khi tiếng chuông thu không điểm mọi người nghỉ việc gióng trâu về chuồng… Tiếng Chuông Chùa, tiếng hồn dân tộc chắc phải là đây…

          Hằng năm, chùa làng tôi cứ vào các lễ lớn như lễ kỉ niệm Phật đản mồng tám tháng Tư (sau này giáo hội đổi lại ngày 15 tháng Tư theo tháng trăng tròn Vesakt), lễ Vu Lan, lễ Thành Đạo…, chúng tôi là đoàn sinh Oanh Vũ gia đình Phật Tử Lương Điền thường cắm trại ở lại đêm tại chùa và thường nghe bài kệ cảnh tỉnh này. Hồi ấy chúng tôi rất sợ làm rắn ở đời sau nên mỗi lần nghe tiếng chuông đầu tiên là ngồi dậy liền và đọc thầm ba điều luật của Oanh vũ: “Em tưởng nhớ Phật. Em vâng lời cha mẹ và thuận thảo với anh chị em. Em thương người và vật” mà các huynh trưởng như anh Quang-liên đoàn trưởng, anh Đích-đoàn trưởng, chị Hòe (Chài), bác Khước-Gia trưởng, anh Tẩn, anh Quảng,  chị Dư, chị Mười, chị Luận, chị Nồng… thường dạy khi lễ Phật, lễ đoàn, và sau khi ngủ dậy… Hồi ấy là thế… và qua bao biến động thăng trầm của đất nước, qua các cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, quê hương nằm trong lửa đạn…
       Từ đó và bây giờ, chúng tôi vẫn đến chùa lễ Phật và công phu…. Chúng tôi có nhiều duyên phước gặp được Minh sư và pháp môn Khí công vi diệu này.                                                

         Nam mô Guru Deva Dakini Hum.

         Sau thời công phu thỉnh chuông, có nhiều huynh đệ đã ngồi trước điện Phật, điện Mẫu, đang hành thiền… Đến thời công phu sáng tụng chú Lăng nghiêm của một Phật tử đến viếng chùa (Chú Tư dạo này có tuổi, mỗi khi trở trời hơi gió là đau nhức lưng nên có người viếng chùa biết tụng kinh ở lại đêm thay chú Tư làm Phật sự này). Tiếng tang mõ đều đúng qui cách nhà thiền, có pháp ngữ, có ê a tán tụng theo âm điệu cung đình…

                   Nam mô Lăng nghiêm hội thượng Phật Bồ tát…

                   Diệu trạm Tổng trì bất động tôn…

                  … hổ hồng đô lô ung phấn ta bà ha…           

         Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khai thị chơn tâm cho ngài A Nan và Đại chúng trên hội Lăng nghiêm, ngài An Nan đã liễu ngộ diệu chơn Tâm liền quì xuống đọc lời phát nguyện trên, sau này Chư Tổ lấy lời phát nguyện này làm bài tựa cho thời công phu sáng… Tiếng tụng kinh trầm hùng tha thiết bao hàm ba đức Bi Trí Dũng… Chúng tôi thường tâm niệm:

               Thuấn nhã đa tánh khả tiêu vong

               Thước Ca Ra Tâm vô động chuyển

               (Tánh hư không kia- có thể tiêu diệt

               Tâm bền chắc này-không bao giờ lay chuyển)         

          Có bao giờ chúng ta tự hỏi Tâm chúng ta đã bền chắc chưa? Tình yêu và xây dựng quê hương bằng mọi phương tiện mà mình có… Người đi xa, người ở lại, kẻ mới đến, chúng tôi nghĩ rằng dù xa ngái, dù ở lại, chúng ta có nơi chôn nhau cắt rốn hào hùng, đã từng chịu mưa dầm suốt tháng, nắng lửa gió lào, đã quen ăn mắm ăn cà, khoai nưa, chột môn, đọt đậu, bông bí, rau trơơng, những buổi chiều mưa dông câu cá, những ngày lụt lội vớt rều, những hội hè đình đám, họ làng giáp thôn mồ mả, những Mô súng, Bải voi, Băng cù, Hà mụ lịnh, Cồn mả, Bàu phoeo…, biết bao và biết bao…, cả một thời thơ ấu, sinh ra và lớn lên, như con chim non đủ lông đủ cánh bay đi…trời rộng sông dài…

           Đêm bắt đầu về sáng, các căn lều vải của chư huynh đệ Sài gòn đã gom lại phía gốc xoài… Trên sân Chùa, tất cả chư huynh, tỷ đệ muội đang yên lặng tập Dịch Cân Kinh, Nội gia Thái Cực quyền, Thiết phiến công… trước miếu Ngũ vị Tiên cô. Bình minh đang thức dậy, những tia nắng hồng phủ ấm núi đồi tranh, bên vách núi đá cao, hàng cây đeo bám lơ lững tạo thế huyền nhai đu đưa theo gió sớm…, đàn chim phướng đuôi dài bay lượn đón chào ngày mới… Trong màn sương mờ, đoàn người gồng gánh lên chùa và cũng có vài người sửa soạn xuống núi… Nắng đã lên, chư huynh đã tập xong công phu buổi sáng. Bên linh tượng Bồ tát Quán Âm và miếu ông Hổ, chúng tôi lại bắt đầu buổi trà đạo…thêm chuyện, thêm duyên…


                                             Mạn Đà

                                             Suối Ngổ, Mùa Vu Lan 2009


TÌNH Ô LÂU - Thơ mời họa của Lê Đăng Mành



TÌNH Ô LÂU!

Núi truồi thai nghén xẻ khơi nguồn “1”

Sông nước Ô Lâu  vượt dặm trường…

Phước Trạch Xuyên Điềm * yêu nghệ thuật

Tân Hòa Sơn Chánh *chuộng văn chương

Giáo đường lồng lộng vang lời nguyện

Phạm Vũ uy nghiêm vọng tiếng chuông

Bồi lỡ đôi bờ chung giọng nói

Cơ hàn chia sẻ bớt tang thương!



                                                   Lê Đăng Mành

1- Sông Ô Lâu là phụ lưu bên trái sông Độc (sông Mỹ Chánh) bắt nguồn từ Đông Truồi Tỉnh Thừa Thiên – Huế. Sông có phụ lưu là sông Thác Ma.

*Làng Ở BỜ NAM thuộc Phong Điền:

  -Phước Tích:Làng gốm cổ

  -Phò Trạch :Làng đan chiếu đệm

  - Mỹ Xuyên :Làng điêu khắc

  -Ưu Điềm  :Làng có nhiều danh nhân văn hóa

* Thuộc Hải Lăng:Ở BỜ BẮC Ô LÂU


CÁC BÀI HỌA:      



            NHÂN TÌNH

            Văn hóa phân ra lắm ngọn nguồn.

            Cơ duyên hàm dưỡng thuộc môi trường.

            Kẻ yêu nghệ thuật sành thư pháp.

            Người thích văn thơ sính tứ chương.

            Cổ tự chiều vang lời kinh sám.

            Giáo đường sáng giục mấy hồi chuông.

            Hồi tâm lắng dịu niềm trăn trỡ.

            Ngẫm lại nhân tình dạ  xót thương.

                                           Hồ Trọng Trí

                                          Kim long, BRVT



        NHỚ QUÊ



         Cam khổ Ô LÂU chung một nguồn

        Đò khuya ai hát giữa đêm trường

        Thừa Thiên đánh giặc ngời trang liệt

        Quảng Trị diệt thù rạng sử chương

        Chiều vọng trường tan rền nhịp trống

        Sáng nghe chùa lễ vẳng hồi chuông

        Quê nhà trù phú vui đời đạo

        Cách dặm phương trời quá nhớ thương



                                                           Trần Ngộ 
                                                            Lâm Đồng


TÌNH Ô LÂU



Không dám họa hoằn chi mô, tui chỉ góp thêm thôi có chi xin quí Bạn bỏ quá cho… Xin góp thêm và mời quý bạn góp thêm



                                 Thượng Lỉnh*,Trường Sơn có lắm nguồn

                                 Như nước Ô Lâu trãi… dặm trường

                                 Hửu ngạn bờ Nam…hàm…nghệ thuật,

                                 Trái bờ mặt Bắc…dẫy…văn chương,

                                 Sắc không, không sắc? ai cầu nguyện

                                 Thường hửu,vô thường! dạng tiếng chuông

                                 Sóng nước đôi bờ, sông hòa điệu

                                 Đò ngang, tròn nhịp chuyện yêu thương…

                                

Tập Như

                                                                               Phố biển 18/3/13,

                         _________________________

                        *Một trong những dãy núi thuộc dãy Trường sơn,nơi phát xuất nguồn sông Thạch hãn, Ô Lâu, có nhiều khe, suối...

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

Trở Lại Lương Điền - Thơ Hiến Minh

 Trở lại Lương Điền


Tôi trở lại Lương điền
Quê hương mình khác lạ
              Bến sông không thấy cá
              Vắng ông Lữ cầm câu
              Loài chim có còn đâu
              Trên cây vườn thiếu vắng   
     
Đường đi oi ả nắng
Nhớ tàn cổ thụ xưa
Rợp bóng mát ven bờ
Những trưa hè hóng gió
              Anh nông dân vội vả
              Khoát nước tắm bên sông
              Cô thiếu nữ đứng trông
              Những bao bì rác rưởi
              Xác súc vật rửa thối
              Xuyên qua làn khẩu trang
Đâu dòng nước trong xanh
Để giặt tà áo trắng
             Những cụ già thầm lặng
             Đi bộ sáng tinh mơ
             Đò quay cát ven bờ
             Máy rà và lưới ống
             Ai mưu tìm sự sống
             Hủy diệt loài thủy sinh
Đất sạt lỡ tiền đình
Cheo leo vòm mái cổ
Bao đình chùa miếu vủ
Soi bóng nước lung linh
                ***
Đang có những công trình
Kè – cừ - bê tông hóa
Đường liên thôn liên xã
Mương dẫn thủy nhập điền
              Nhịp sống chuyển mình lên
              Từ ruộng - đồi - chợ búa
Nguyên sinh còn đâu nữa
Chỉ bát ngát rừng trồng…
Đâu những chú nai vàng
Đạp lá khô xào xạc….
              Dòng Thác Ma man mác
              Chôn chặt kiếp phù sinh
              Những mảnh ghép hư vinh
              Cuốn theo về biển cả.



16/03/2013 Hiến Minh
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Thơ Thẩn
Cầm ly nước vối
Tìm muống bờ ao
Phất quạt mo cau
Gặp ông thơ thẩn


16/03/2013 Hiến Minh