Ban Quản Trị

Thư từ bài vở xin gởi về:
Nguyễn Điền: nguyendienhl@gmail.com - Nguyễn Lê Hiếu: lehieunguyen91@gmail.com - Triều Nguyên: baolongspkt@gmail.com, luongdienhaison@gmail.com, ngkhacphuoc@gmail.com


Chủ Nhật, 19 tháng 11, 2017

SÔNG Ô LÂU HUYỀN THOẠI - Đoàn Việt



SÔNG Ô LÂU HUYỀN THOẠI
Đoàn Việt

Sông Ô Lâu (còn có tên là Sông Thu Rơi) bắt nguồn từ thượng nguồn đỉnh núi Truồi hùng vỉ, có độ cao tuyệt đối xấp xỉ 905m, chảy lượn quanh co giữa núi rừng trường sơn, chảy xuôi về Phò Trạch, rồi chuyển hướng tây bắc, ngã rẻ chổ hội lưu với sông Độc còn gọi là sông Mỹ Chánh, tạo nên dòng sông Ô Lâu huyền thoại, chảy êm đềm trong vắt đầy thơ mộng, rồi chảy về hai làng Câu Nhi và Phước Tích, gặp sông Thác Ma, chảy xuôi về Vân Trình, chảy ra phá Tam Giang,ghé qua cửa Lác và ra biễn đông,(1)
Thế nhưng, hầu hết các con sông đan nối vào nhau hết sức phức tạp và độc đáo, thành một màng lưới chằng chịt, từ sông Ô Lâu đã liên kết đến phá Tam Giang, đến sông Hương, qua sông Lợi Nông, qua sông Đại Giang, sông Hà Tạ, sông Cống Quan, sông Truồi, sông Nông, xuyên qua đầm Cầu Hai, tất cả nằm trong hệ đầm phá Tam Giang và đầm Cầu Hai, ngoài ra sông Ô Lâu còn liên kết với các trằm bàu tự nhiên. Vì thế, sông Ô Lâu là dòng sông tuyệt đẹp của vùng đất miền Trung, dòng sông uốn lượn chảy êm đềm, mát dịu, mềm mại như dãi lụa. Tên sông được ca ngợi, Trăm năm còn lỗi hẹn hò, Cây đa bến cộ con đò khác đưa. Câu ca dao sinh ra trên những bến sông từ cái thuở sĩ tử xứ Đàng Ngoài muốn vào kinh ứng thí phải vượt trường giang, bên triền sông này đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước, trãi qua nhiều thế hệ, về danh nhân như Cụ Bùi Dục Tài người đổ Tiến sỉ thời Vua Lê Hiển Tông, đây là vị tiến sỉ khai hoa của xứ Đàng Trong, Ông được thăng quan đến chức Tả thị lang Bộ Lại và Cụ Bùi văn Tú giử chức thượng thư bộ lại triều Tây Sơn hai vị được tôn vinh “ kinh bang tế thế ” thượng thư triều Nguyễn có Nguyễn Tăng Doãn và ngài tướng công Phạm Duyến, ủy lạo sứ Nguyễn Chánh, Mậu hóa hầu Trần Quý Công, (2) quan tướng Triều Mạc Hoàng Bôi, thời Vua Tự Đức có cụ Hồ Oai quyền chưỡng vệ Long võ quân, có thành tích bão vệ Vua Tự Đức trong kỳ nổi loạn Chày vôi của hai anh em Đoàn Trung, Đoàn Trực,(3) và nhiều vị tiển sỉ hiện nay…đã sống và uống mạch nước nguồn sông Ô Lâu như một huyền thoại. Ngoài ra hai bên triền sông ấy có làng cổ Phước tích 500 năm tuổi, bên kia sông có làng cổ Hội kỳ 500 năm tuổi, nhưng chưa được công nhận, xuôi về có làng (tiến sỉ) Câu Nhi, ở làng Mỹ Xuyên có nghề điêu khắc, làng Ưu điềm có di tích ChămPa nổi tiếng… Trong dân gian còn lưu truyền nhiều giai thoại về con sông này. Chuyện kể rằng: Vào đời vua Trần Anh Tông, đầu tháng 6 năm Bính Ngọ ( 1306) vua Chiêm Thành Chế Mân (Jaya Simhavarman III ) dâng hai châu Ô – Rí về sau đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu làm sính lể để cưới công chúa Huyền Trân và để giử hòa khí hai nước, tránh nạn binh đao và mở mang bờ cõi. Trên con đường thiên lý Bắc Nam, thì dòng sông này đã chứng kiến cảnh Huyền Trân trên đường bái biệt nước non Đại Việt để ngàn dặm ra đi về làm dâu xứ Chiêm Thành, được phong tước Hoàng Hậu Paramec-varti, và con sông Ô Lâu này tiêu biểu cho châu Ô, Sử sách còn ghi lại.
Hai châu Ô Lý vuông nghìn dặm,
Một gái Huyền Trân của mấy mươi?
(4)
Để hôm nay dòng sông như chảy vào lòng người, vổ về những con đò nhỏ và nghiêng mình cho lủy tre làng soi bóng nước. Con sông, bến Đò, bãi tắm đã thu hút tâm hồn bao thế hệ trôi qua, mỗi thế hệ có những cuộc chơi riêng, họ vui đùa trên sóng nước mênh mông, cách ứng xử cũng đầy hồn nhiên. Dòng Ô Lâu quê mẹ vẫn giữ được nét xưa vốn có, vẫn một màu xanh thắm của thời gian, vừa sâu lắng về thân phận mỗi con người , mỗi dòng sông trong những dòng sông dọc dài đất miền Trung nắng dãi mưa dầm đều mang một nét đẹp riêng, song tất cả các dòng sông đều chảy ra biển xanh lộng gió, chỉ đến đầu tháng bảy, những cơn mưa bất chợt hiện về, báo hiệu một mùa mưa lủ đến, những trận mưa xối xả mấy ngày đêm từ thượng nguồn đổ về, dòng sông như gầm réo ầm ào, chao đảo dật dờ, nổi trôi, nước bắt đầu chuyển sang màu bạc của lớp đất phù sa, cá tôm từ thượng nguồn xuôi nước đổ về, các loài cá từ phá Tam Giang, các nhánh sông liên kết chạy ngược lên theo con nước, mang đến cho dòng sông nhiều chủng loại cá phong phú và hết sức đa dạng, ở hệ thống sông Ô Lâu hiện nay được xác định có 109 loài, 76 giống, với 31 họ thuộc 11 bộ khác nhau. Đã xác định được 16 loài có giá trị kinh tế cao, 5 loài cá quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam 2007, cả 5 loài đều được xếp vào bậc VU ( vulnarable) (5) . Khi đã trút hết những trận mưa kéo dài, rồi dòng sông trở nên hiền hòa, trả về khoảng lặng yên, trả về làn nước trong xanh, bởi dòng sông có nhiều truông cát nên nước luôn trong xanh mà ngọt quanh năm, sông chảy trong dòng sống và hòa nhịp thở cùng người. Sông lấp lánh mạch nguồn thấm đẫm.
Với riêng tôi, hơn nửa đời phiêu dạt, tôi có dịp ghé nhiều thăm nhiều con sông khác trên các nẻo đường từ miền Nam ra Trung, cũng như những con sông khác trên mọi miền tổ quốc, mỗi con sông đều có vẻ đẹp riêng và ít nhiều đã gắn bó với tôi nhiều kỷ niệm. Dòng Ô Lâu đã neo đậu nơi tôi biết bao nỗi niềm tha thiết, Nhưng mãi đến tận hôm nay, sau hai mươi năm xa cách, về lại nơi bến Huyện củ, thôn Tư Ưu Điềm, tôi ngồi khỏa tay vào dòng nước trong xanh, để cảm nhận một dòng sông và thầm cám ơn thôn xóm hiền hòa bên triền sông Ô Lâu huyền thoại này đã gắn liền khúc ruột được chắt chiu từ một ký ức xa thẳm, không ai có thể chia lìa, cũng chính nơi đó, đã đánh thức bao nỗi hoài cảm, tưởng đã mất đi trong tâm hồn.
Viết bởi: Đoàn Việt( tên cúng cơm là Đoàn Hạ)
(1)t heo địa chí Thừa Thiên Huế - Phần tự nhiên - nhà xuất bản Khoa học xã hội – năm 2005 )
(2) ở làng Câu Nhi) (3) ở làng Mỹ Cang) (4) bài vịnh của Thái Xuyên) (5)(theo nguồn Study on the Composition of Fish Species in Ô Lau6River, TT.Huế)

*****

Nguồn: Facebook:  Huế - Những vần thơ Những giai thoại

ĐI TÌM ĐỊA DANH CHO MỘT MỐI TÌNH ĐÃ ĐI VÀO HUYỀN SỬ - Khê Giang



ĐI TÌM ĐỊA DANH CHO MỘT MỐI TÌNH 
ĐÃ ĐI VÀO HUYỀN SỬ
Khê Giang

Ô Lâu được biết đến là ranh giới tự nhiên giữa Thừa Thiên- Quảng Trị, nơi hội tụ của những dòng chảy thi ca, nơi có những câu chuyện tình lãng mạn được lưu truyền trong dân gian trên cả đôi bờ của một vùng châu thổ rộng lớn. Khác với câu chuyện tình của bà Nguyễn Thị Bích (Thiếp của vua Quang Trung) và bà Dương Thị Ngọt (Phi của vua Thành Thái) phần nào được gắn kết vào các cứ liệu lịch sử, có một câu chuyện tình mặc dù chỉ được truyền khẩu qua những làn điệu ca dao, nhưng đó là một câu chuyện tình đẹp, đẫm nước mắt và lay động lòng người: chuyện cô gái đưa đò trên bến Cây Đa.
Chuyện xưa kể rằng: một ngày nọ, có chàng thư sinh nghèo xứ Nghệ, vào Kinh ứng thí, khi qua sông Ô Lâu gặp một cô gái xuân thì làm nghề đưa đò, do cô nàng ngoài nhan sắc trời lại phú cho tính tình hiền lành, khiến chàng thư sinh đem lòng yêu mến. Chẳng may năm đó chàng sỹ tử kia chưa được vinh dự ghi tên trên bảng vàng, trên đường trở về qua bến đò Cây Đa, hai người đã thề non hẹn biển và hẹn ngày trở lại vào kỳ thi sau. Ba năm đằng đẳng đợi chờ vẫn không thấy bóng dáng người xưa, nàng buồn bã quẩn chí và trầm mình xuống khúc sông nơi hai người đã thề nguyện. Nhưng nghịch cảnh trớ trêu, khi chàng thư sinh năm xưa khăn gói trở lại thì than ôi, bến cũ còn đó, con thuyền còn kia, mà người yêu xưa đã vắng bóng. Chàng đau đớn và rút ruột viết ra những vần thơ khóc cho người mệnh bạc:
Trăm năm đành lỡ hẹn thề,
Cây Đa Bến Cộ con đò khác đưa
Cây Đa Bến Cộ còn lưa,
Con đò đã thác năm xưa tê rồi!
(Cộ: cũ; Tê: kia; Lưa: còn lại; Thác: chết-mất)
Câu chuyện tình đẹp và bi thương trên là nguồn cảm hứng mực cho những đàm luận, bài viết từ giới văn nghệ sỹ cho đến những tao nhân mặc khách, họ đinh ninh rằng Cây Đa, Bến Cộ là hai bến đò nào đó trên dòng sông xưa. Vậy là những sáng tác cổ kim lần lượt ra đời: Một thi nhân nghe chuyện xưa đã cảm tác:
Qua bến Cây Đa dạ những sầu
Xót người mệnh bạc bởi vì đâu?
Gió xuân đưa khách qua đường mộc
Ngọn nước đem tình lấp vực sâu.
Nước chảy, chảy theo đôi giọt lệ
Tình riêng, riêng viếng một vài câu,.
Đau lòng nhớ lại mười năm trước
Cuồn cuộn trường giang nước chảy mau.
Và Nguyễn Bính nhà thơ đồng quê Việt nam cũng có bài viết về câu chuyện tình của cô lái đò (có thể là bến Ô Lâu hay một bến đò nào đó nơi nhà thơ đã đi qua?):
Xuân đã đem mong nhớ trở về,
Lòng cô gái ở bến sông kia.
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,
Trên bến cùng ai đã nặng thề!
Nhưng rồi người khắc tình xuân ấy
Đi biệt không về với bến sông!
Đã mấy lần sông trôi chảy mãi,
Mấy lần cô lái mỏi mòn trông
Xuân đến nữa là đã ba xuân,
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần!
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi,
Cô đành lỗi ước với tình quân!
( Lỡ bước sang ngang- Nguyễn Bính. 1940)
Tuy nhiên sau những trang viết trữ tình bay bổng, khi giật mình nhìn lại đa phần các tác giả đều lúng túng khi không thể tìm ra những địa danh liên quan đến câu chuyện đã đi vào huyền sử này. Sự mất định hướng của những người khi đi tìm địa danh của câu chuyện xuất phát từ cảm nghĩ đây là sáng tác của chàng thư sinh xứ Nghệ mà quên mất nó là bài ca dao đang được lưu truyền rộng rãi tại các tỉnh thuộc Bắc trung bộ.
Với nền văn hóa đặc trưng, từ rất lâu hình ảnh cây đa - bến nước - con đò đã là biểu tượng của văn hóa truyền thống làng quê Việt nói chung, vùng Bắc trung bộ nói riêng, hình ảnh ấy đã đi sâu vào tâm khảm mỗi con người, là kỷ niệm êm đềm của tuổi ấu thơ, là bến hẹn cho tình yêu đôi lứa, là ký ức về cội nguồn cho những kẻ xa quê…
Đi suốt chiều dài dòng chảy của vùng đất Bắc trung bộ, ta có thể bắt gặp hàng trăm câu ca dao dùng hình tượng Cây đa, bến cũ, con đò:
- “Cây đa trốc gốc trôi rồi/ đò đưa bến khác em ngồi đợi ai.”
- “Cây đa là cây đa cũ/ Bến đò là bến đò xưa/ Nay chừ người khác vô đưa/ Oan ơi, oan hỡi, tức chưa bạn tề!”
- “Cây đa là cây đa bến cũ/ Bến cũ là bến cũ đò xưa/Ôi thôi rồi người khác sang đưa/Thiếp nhìn chàng lưng lẻo, nước sa xuống như mưa hỡi chàng.”
- “Chèo thuyền ra rào Cái, em ngó lại quê mình/ Chim trên cành đủ cặp cớ sao mình lẻ đôi/ Bởi vì đây đó đôi nơi/ Con thuyền nan bằng chiếc đũa không một lời nhắn đưa/ Cây đa bến cũ con đò xưa/ Người thương có nghĩa, nắng mưa cũng chờ.”
Tuy nhiên trong bài viết này chúng ta chỉ lược qua một số câu tương đồng nhưng dị bản với bốn câu được cho là sáng tác của chàng nho sinh trên:
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò, /cây đa bến cũ con đò khác đưa. /Cây đa bến cũ còn lưa/ Con đò năm ngoái, năm xưa mô rồi?...”
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò/ Cây đa bến cũ con đò khác đưa/ Con đò sớm thác năm xưa/ Cây đa bến cũ còn lưa đến chừ.”
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò/ Cây da bến cộ con đò khác đưa/ Cây da bến cộ năm xưa/Chữ tình ta cũng đón đưa trọn đời.”
“Trăm năm dầu lỗi hẹn hò /Cây đa bến cũ con đò khác đưa./ Cây đa cũ, bến đò xưa / Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ.”…
Trong nhạc phẩm “Trăm năm bến cũ” phổ thơ Lưu Trọng Văn, nhạc sỹ Phạm Duy cũng sử dụng rất có hồn hình ảnh cây đa bến nước con đò ngay những ca từ đầu tiên: “Trăm năm dầu lỗi hẹn hò, Chứ cây da bến cũ con đò khác đưa...”.
Không chỉ về lĩnh vực thơ nhạc, hình ảnh cây đa, bến nước, con đò còn được các họa sỹ, chọn làm bố cục cho nhiều sáng tác của mình từ những bức vẽ dân gian cho đến những dòng tranh hiện đại.
Lược khảo những sáng tác trên, chúng ta nhận thấy cụm từ cây đa bến cộ đa phần mang tính ẩn dụ của phương pháp tu từ trong sáng tác hơn là từ chỉ về địa danh (Cây Đa, Bến Cộ). Ngoài ra nếu gán những dòng viết trên cho một chàng nho sinh, vô tình chúng ta hạ thấp trình độ chử nghĩa của những bậc nho học ngày nào. Với vỏn vẹn có bốn câu lục bát đã mắc lới hai lỗi: lỗi vần ( thề.. đò) vừa lỗi ghép từ (xưa tê) điều mà những người sáng tác vùng này khó có thể mắc phải cho dù họ chỉ là nông dân chân lấm tay bùn.
Nếu coi cụm từ Cây Đa, Bến Cộ là tên gọi của hai bến đò ngang. Chúng ta thử đi tìm hiểu về lộ trình cũng như những địa danh có thể liên quan nơi chàng sỹ tử trên đường vào kinh. Xét từ Nghệ An về Phú Xuân, không có con đường nào thuận lợi hơn đường Quan báo, con đường này còn gọi là đường Kinh sư hay đường Thiên Lý Bắc – Nam đã tồn tại trước khi chúa Nguyễn vào khai mở xứ Đàng trong, đây là tuyến giao thông thuận lợi nhất thời bấy giờ, tuyến đường này nối Phủ Thừa Thiên và Đạo Quảng Trị qua bến đò Hôm Lạng (Bờ Nam là trạm hành cung Mỹ Xuyên, bờ Bắc là làng Lương Điền ( Kẻ Lạng, Lương Phúc…)
Xuyên suốt một thời gian dài kể từ khoa thi đầu tiên cho đến khoa thi cuối cùng tại Phú Xuân, nếu gộp cả bến sông và bến đò ở những làng quê gần lộ trình của chàng sỹ tử đi qua ta có: bến Đình, bến Chợ, bến Cồn Thiêng, bến Hôm Lạng, bến Ba Bến, bến Phước tích, bến Câu Nhi Hòa, bến Mỹ Xuyên… tuyệt nhiên không có bến đò nào mang tên Cây Đa hay Bến Cộ.
Khi không tìm ra hai bến đò xưa trên đường đi của chàng nho sinh, một số tác giả lại víu vào hai địa danh nằm cách rất xa con đường Kinh sư: Một là Bến Cộ nằm ở thôn Tân Lương bên bờ Nam của dòng Thác Ma (thuộc xã Hải Chánh), đây là con bến được hình thành vào cuối thế kỷ XIX khi một nhóm cư dân từ Lương Điền đến Tân Lương khẩn khai lập ấp, tại đây vào năm 1914 có một nhà thờ được dựng nên, ngôi thánh đường này vẫn mang tên Bến cộ (Tân Lương) và tồn tại cho đến ngày nay. Hai là bến đò Cây Da, bến đò này nằm vào khúc cuối của dòng Ô Giang, thuộc thôn Diên Trường làng Diên Sanh (Hải Thọ), Nam giáp làng Trường Sanh (Hải Trường). Đông giáp dòng Ô Giang và Bắc giáp Hải Thành. Điều trùng hợp thú vị là ở đây cũng có ngôi thánh đường cổ được hình thành từ thế kỷ XIX.
Cứ cho rằng bến Cộ ở đây là bến đò và Cây Đa chính là bến đò Cây Da (phương ngữ) vẫn rất khó để lý giải về việc một cô gái làm nghề đưa đò phải mưu sinh trên một lộ trình xa xôi đến thế và cũng vô cùng khó hiểu khi chàng nho sinh kia đến Kinh thành lại không đi theo con đường Quan báo thênh thang (chỉ quá giang bến đò Hôm Lạng là đã qua đất Thừa Thiên) mà phải đi một chuyến đò vòng vo (từ bến đò Cây Da qua Diên Sanh, Trường Sanh, Hà Lộc, Lương Điền ngược dòng Ô Giang đến nguồn Thác Ma để ghé Tân Lương). Một lộ trình vừa bất hợp lý về thời gian (tuyến thủy lộ quá dài) kể cả không gian (không có tuyến đường nào vào kinh thành tại Tân Lương), ngoại trừ trường hợp chàng nho sinh này trên đường vào kinh ngẫu hứng muốn lặn lội đến xóm Càng (Cây Da) để câu cá và sau đó nhờ cô gái đưa đò chở về Tân Lương để ngắm non xanh nước biếc hay săn bắt thú rừng. Một giả thiết đặt ra: chàng nho sinh này là người gốc đạo ( Thiên chúa giáo) trên đường vào kinh muốn ghé hai giáo xứ kia để hành lễ thì nhà thờ Kẻ văn (thuộc làng Văn Quỹ, Hải Tân) là địa chỉ đáng đến hơn, vì trong thời gian này cả hai giáo xứ Cây Da, Bến Cộ đều không có linh mục và đều trực thuộc sự điều hành của cha quản hạt giáo xứ Kẻ Văn. (Phải đến năm 1904 giáo xứ Cây Da mới có linh mục và mười năm sau đến lượt giáo xứ Bến Cộ mới có đức cha cai quản.)
Việc đi tìm những địa danh, cội nguồn xuất xứ trong những sáng tác dân gian là điều không dễ dàng. Qua trích dẫn những sáng tác từ dòng văn chương truyền khẩu cho đến văn chương bác học có liên quan đến cụm từ cây đa bến nước con đò, cộng thêm tính không phù hợp khi đi tìm những bến đò gần kề trên cung đường nơi chàng nho sinh đi qua, chúng ta có quyền hồ nghi về tính xác thực của các địa danh liên quan đến câu chuyện và có thể nhận định rằng: bài thơ của chàng nho sinh kia chẳng qua là bài ca dao dị bản hiện đang lưu hành rộng rãi trên suốt chiều dài của mảnh đất Bắc Trung bộ.
Tuy nhiên cho dù những dòng sáng tác xa xót đầy bi thương trên xuất phát từ đâu thì câu chuyện tình trắc ẩn của cô gái đưa đò trên dong Ô Lâu vẫn là một chuyện tình đẹp luôn làm xốn xang những ai có dịp đến nơi này nhất là những người đang đi tìm những trầm tích văn hóa đang rầm rì chảy trên dòng sông quê hương.
20/10/2017
Khê Giang

*****
Nguồn: Facebook Lê Văn Huấn

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

TỰ SỰ / NGHĨA ĐỊA - Thơ Đoàn Như Thượng

  
Tác giả và phu nhân.


TỰ SỰ

  Có chút gì tôi mãi nhớ không quên
  Có nhiều điều tôi mãi quên không nhớ
  Có tháng, ngày tôi ương ương dở dở
  Tỉnh tỉnh, mê mê quên cả tên mình.
  Có những đêm mơ thấy bóng, tưởng hình.
  Có những chiều đang yêu thương bỗng ghét.
  Có niềm vui hóa nỗi đau da diết.
  Vô tư cười, vô tư khóc, vô tư quên.


   NGHĨA ĐỊA

Ở đây không có kẻ đứng, người ngồi
Chỉ nằm một thế
 Không ngay hàng tử tế
Nhấp nhô, cao thấp, ngắn dài
Trước đến đây có quan to, lính nhỏ
Kẻ ăn mày vẩn nằm cạnh  doanh gia
Chí phèo uống không kêu la
Bá kiến nằm im giờ mục nát
Thằng Bờm không mặc cả nhỏ to
Cái quạt mo
Phú ông hiền như đất.

Đoàn Như Thượng

Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

CHUYỆN CUỐI NĂM …XƯA!

CHUYỆN CUỐI NĂM …XƯA!

ÔÔng nghe tui nói chuyện ni nì
Tết dứt đã về sắm sửa ri
Ao bá thằng cu đang có nút
Váy chằm con đóc vẫn còn khuy
Dà nghèo cấu mói nên lo trước
Cựa khó dầu đèn phải tính đi
Còn cấy dôông miềng răng cũng đượng
Chung cuần không đáy lệnh Triều nghi*
Lê Đăng Mành

*Tháng sáu có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì phải lột quần chồng sao đang

BÀI HỌA
SĂM TẾT XƯA

Tới tiếng chuyện ni Mạ hắn nì
Mơi là ngày tết săm dư ri
Cu to áo cộ đơm thêm nút
Đóc thỉ quần lâu vận cắt khuy
Miềng khó dang đầu mạn chắc đợ
Dà khan lợt lớ liệu xin đi
Cớ non đàng bột béng mần dỏ
Cúng quảy lại Ngài cụng lễ nghi
Nguyễn Bá Bồng
Lương Điền


ÔÔNG NÓI VỚI MỤ

Tết tới tui bàn chuyện mụ nì
Dà miềng đôông đứa tính ra ri
Thằng Xoài áo rách nên thừa nút
Con Mận quần lèng lại thiếu khuy
Tôm cá đưới rào mò hắn chạy
Thỏ chồn côi đôộng  đụng là đi
Cấy dôông tự liệu mần răng đó
Hương khói ba ngày phải lễ nghi
Trương Đăng Sử


Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

Nhắc các cụ ở tuổi trên sáu mươi - Dược sĩ Nguyễn Hữu Đức

Bài này Dược sĩ Nguyễn Hữu Đức viết cho người Việt ở Mỹ, nhưng chúng ta cũng nên đọc để biết mà giữ gìn sức khỏe.

NHẮC CÁC CỤ TRÊN TUỔI 60

Trong vòng một thế kỷ qua, tuổi thọ trung bình kể từ lúc sinh ra của người sống tại Mỹ đã tăng lên đáng kể, từ 47 tuổi năm 1900, lên đến 77 tuổi năm 2004. Tính ra, vào năm 2030, người trên 65 tuổi sẽ chiếm hơn 20% dân số, tức khoảng 70 triệu người.

Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2017

CON ĐÒ BẾN CỘ -Thơ Phan Khâm - nhạc Nguyễn Tất Vịnh




Cây Đa Bến Cộ
(Bến Sông Ô Lâu)

Phan Khâm

Khi mô về Bến Cộ
Nhớ cây đa, con đò
Nghe chuyện tình dang dở
Em nhìn chị ngẩn ngơ

À ơi con nước con đò
Trên sông ai thả câu hò lửng lơ
Cát bồi cát lỡ tương tư
Con hàu con hến ngất ngư phận đời

Khi mô về Bến Cộ
Em xin chị câu hò
Dù gặp nhiều gian khổ
Sao chị vẫn đành cho

Khi mô về Bến Cộ
Em nhớ mãi câu hò
Chim xa đàn lìa tổ
Lạnh lùng chị co ro

Khi mô về Bến Cộ
Bao giờ bới âu lo
Khua mái chèo sống vỗ
Trăm năm lỗi hẹn hò

“Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa Bến Cộ con đò khác đưa
Cây đa Bến Cộ còn lưa
Con đò đã thác năm xưa tê rồi..”

Phan Khâm

Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017

Cây Phong Lưu trước cổng đình làng

                                  
Cây Phong Lưu trước cổng đình làng

Nguyễn Bá Bồng

Tỏa bóng sân đình tạo cảnh thiên
Lá reo vi vút tiếng đàn tiên
Âm thanh thánh thót nghe êm ái
Nhạc thoát du dương thấy dịu hiền
Trưa hạ vỗ  về say nồng thắm
Đêm thu thỏ thẻ đắm mơ huyền
Chan nguồn hạnh phúc lên thôn xóm
Ơn cụ Thị Khuê trồng bách niên

Liên châu

Trồng bách niên cây tán rợp đường
Bóng nghiên bờ đẹp cảnh thôn Lương
Dừng chân du lịch qua thuyền bộ
Nghỉ gót thăm quan đến dặm trường
Tiếng lá thì thầm bao sự tích
Lời hoa thủ thỉ chuyện tinh tường
Những gì nghĩa cử đời tôn kính
Để lại trong lòng khách viễn phương.


* Cây Phong Lưu được trồng khoảng năm (1915-1917)
  



KỂ CHUYỆN LÀNG TÔI
                                        Nguyễn Bá Bồng 

Làng tôi là một miền quê
Ven đường quan cái nối về xã xa
Hai đầu rộn rã khách qua
Dưới sông trên bộ song xa dặm vời
Đầu thôn hai miếu lâu đời
Rêu phong thiên cổ tích thời nan phân
Hiên đình Nghê đá triều sân
Nơi đây thờ phụng tiền nhân dựng làng
Sắc phong dấu ấn son vàng
Tám khu địa bộ xưa làng nêu danh
Vực Kè bên ấy tân canh
Đất lành chim đậu yến oanh một nhà
Động Tý thông lủng trên xa
Cây cò cây hạc tre nhà gốc chung
Cồn Tàu nghiêng bóng bên sông
Cùng mang nguồn cội máu chung đậm tình
Cồn vườn-Khe tấy đồi ghềnh
Sơn khê một dải tổ đình xuất ra
Đông-Tây-Nam nhà cạnh nhà
Quan quân dân chính thiết tha thương đời
Sinh ra anh kiệt nhân tài
Tồn vong đất nước nhiều thời thân phơi
Ai qua mời ghé thăm chơi
Nơi đây đất cũ một thời đế đô
Danh tích còn rõ địa đồ
Bến Voi, Trường Ngựa, nhà kho phủ đường
Tiền Kinh có bến thừa lương
Phía bắc Mô súng chặn phường hung nô
Cảnh quan nhiều nét điểm tô
Có con khê mã dưới hồ đồi tây
Đông xuân nước đổ về đây
Tưới qua ruộng lá lòng đầy mương kênh
Phong Lưu bóng tỏ bên đình
Trưa hè râm mát  đêm xinh trăng cài
Chợ chiều một thửa chen vai
Làng trên xóm dưới khách ngoài đến đông
Đình chùa nhà họ ngói hồng
Ngày xuân lễ hội cảnh trông rộn ràng
Giữa làng băng dặm quan san
Dấu chân mở nước buổi ngàn xa xưa
Ô Lâu sông bến sáng trưa
Khách qua thửa ấy đò đưa lại ngày
Ruộng lành chim đổ về đây
Đồng xanh cò trắng mang đầy cảnh quê
Trường tan trống bãi trẻ về
Chim kia tìm tổ trâu bê gọi bầy
Giọng hò xứ sở vơi đầy
Của người thôn nữ vui say ruộng vườn
Ngày ngày một nắng hai sương
Tình người nồng thắm yêu thương khôn lường
Đêm về chuông vọng chùa Lương
Ngân nga thức tục tĩnh đường cuồng mê
Nơi đây đất nước hẹn thề
Thủy phong văn vật nét quê đậm đà
Ai về Phước Tích nhìn qua
Lương Điền bờ bắc đó là quê tôi.

                  Lương Điền - 2017









Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017

Thư mời dự lễ khánh thành cổng làng


Cổng Làng vừa được xây dựng 




  Hình ảnh hội đua thuyền truyền thống của Làng 

Thứ Năm, 16 tháng 3, 2017

THẦM LẶNG - Trần Ngộ

THẦM LẶNG

Em vội vã sau những chiều tan học
Để kịp  về cùng một chuyến đò hôm
Đàn chim non gọi bạn ở bên cồn
Hơi nước lạnh trên mạn thuyền độc mộc

Mưa chiều đổ đếm muôn trăm ngàn hột
Em soi mình trên làn nước lăn tăn
Tuổi thư sinh trong trẻo tựa trăng rằm
Hồn trinh bạch thơm tho như màu tuyết

Nhớ thuở nào ta yêu em da diết
Mối tình câm đem chôn chặt đáy lòng
Dấu thẹn thùng sau những cánh mưa giăng
Dâng nông nỗi cho mây bay về biển

Rời bến cũ tình ta bao xao xuyến
Buổi tương phùng sáo lỗi hẹn sang sông
Giọt lệ nhoà làm nhạt chữ thuỷ chung
Ta lảo đảo bước dưới chiều cô quạnh

Thu sắp qua gió giao  mùa lành lạnh
Đêm một mình nằm nhớ chuyện xa xưa
Trời tương tư ta gieo mộng bao giờ ?
Chừ xa vắng lòng nghe buồn thầm lặng

TRẦN NGỘ


KINH ĐỜI - Tập Như

KINH ĐỜI 

Đạo… rằng từ thuở hồng mông
Đi vào sáu nẻo  sắc không… với đời
Ta bà vũ trụ đầy vơi…
Hằng sa… lối đạo là lời vô ngôn…

Đời… thường có thủy có chung
Tùy duyên… thể dụng sắc không… bến bờ…
Vào đời… kinh phải là thơ
Theo giòng… năm tháng đem thơ mời người…
Tập Như
20/08/11


MỪNG XUÂN ẤT MÙI * Trần Ngộ

MỪNG XUÂN ẤT MÙI 
(Thể liên hoàn)

Tiễn năm Giáp Ngọ, Ất Mùi sang
Nghĩa nước tình dân thắm đá vàng
Bến Cộ khơi nguồn trong vạn thuở
Ô Lâu thông mạch mát vô vàn
Đường lên hạnh phúc bao người sướng
Đỉnh đến vinh quang lắm kẻ nhàn
Đất mẹ mạnh giàu trông bát ngát
Trời quê lồng lộng đẹp thênh thang
Trời quê lồng lộng đẹp thênh thang
Tiếng pháo giao thừa rộn rả vang
Chúc chị công thương càng tấn lộc
Mừng anh cán chính được thăng quan
Thi nhân phổ nhạc tròn cung vận
Mặc khách ngâm thơ vẹn điệu đàn
Tết tới mai đào khoe rực rỡ
Xuân về đồng vọng khúc ca hoan ... !


Trần Ngộ (Lâm Đồng)